Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Thứ ba, 28/09/2021 04:40 GMT+7

Vua Minh Mạng với nghiệp bang giao giữ yên bờ cõi

Biên phòng - Vua Minh Mạng (còn gọi là Minh Mệnh hoàng đế) tên húy là Hiệu và Đảm, sinh ngày 23 tháng 4 năm Tân Hợi (1791), là con thứ tư của vua Gia Long và bà Thuận Thiên Trần Thị Đang. Sau khi vua Gia Long mất, tháng Giêng năm Canh Thìn (1820), thái tử Đảm lên ngôi vua, đặt quốc hiệu là Đại Nam, niên hiệu là Minh Mạng.

Vua Minh Mạng có tư chất thông minh, hiếu học, năng động và quyết đoán. Từ khi lên ngôi, ông ra coi chầu rất sớm, xem xét mọi việc trong triều và tự tay "châu phê" rồi mới cho thi hành. Thuật ngữ "châu phê" bắt đầu có từ đây. Minh Mạng muốn quan lại các cấp phải có đức độ và năng lực, nên khi mới lên ngôi, nhà vua đã đặt ra lệ mà về sau khó ai thực hiện nổi. Quan lại ở Thành, Dinh, Trấn, quan văn từ Hiệp trấn, Cai bạ, Ký lục, Tham hiệp; quan võ từ Thống quản cơ đến Phó vệ úy... ai được bổ nhiệm đều đến Kinh thành gặp vua trước khi nhậm chức, để nhà vua hỏi han công việc, kiểm tra năng lực và khuyên bảo...

Về ngoại giao, vua Minh Mạng chú ý việc đi sứ và đón sứ. Ông từng nói với triều thần: "Từ Trần, Lê về trước, không phải người tài rộng khắp thì không cho đi sứ được. Nhân đó sắc rằng: Từ nay đi sứ phải chọn người tài đức".

Nhờ thế mà các hoạt động ngoại giao thời vua Minh Mạng với các nước láng giềng đã rất phát triển, giữ yên được bờ cõi, hữu hảo.

Quan hệ với Xiêm (Thái Lan)

Khi mới lên ngôi, vua Minh Mạng cho sứ sang Xiêm báo tang vua Gia Long và tặng vua Xiêm một số sản vật như kỳ nam, nhục quế, đường phèn, đường cát và hàng trăm tấm the, tấm vải...

Năm 1824, nước Xiêm cho sứ sang triều đình Huế báo tin vua Xiêm mất, Minh Mạng bãi triều ba ngày để tang vua Xiêm. Nhưng đến năm 1827, Xiêm xâm lược nước Vạn Tượng (Bắc Lào), vua Vạn Tượng là A Nỗ chạy sang Việt Nam cầu cứu. Vua Minh Mạng cho quân sang giúp Vạn Tượng, cuộc xung đột Việt - Xiêm bắt đầu. Vạn Tượng lấy lại được đất nước.

Năm 1829, vua Minh Mạng đưa thư sang hòa hoãn với Xiêm. Nhưng hòa hoãn chỉ là tạm thời và mong manh. Những xung đột, hiềm khích giữa Xiêm và Việt vẫn diễn ra liên tiếp trên đất Vạn Tượng. Năm 1832, vua Xiêm cho sứ sang Việt Nam báo tin vua thứ hai nước Xiêm mất; Minh Mạng cho sứ sang điếu tang. Nhưng đến năm 1833, Việt - Xiêm lại xung đột và cứ thế liên tục cho đến khi Minh Mạng mất.

Quan hệ với Vạn Tượng (Lào)

Thời vua Minh Mạng, quan hệ giữa nước ta và Vạn Tượng rất tốt đẹp. Hai bên đều có sứ qua lại, tặng quà nhau rất trọng hậu.

Năm 1821, vua Vạn Tượng cho người đem nhiều vật phẩm sang tặng triều đình Huế. Đáp lại, ngoài những quà tặng như thường lệ, Minh Mạng còn tặng vua Vạn Tượng nhiều thứ như: Gấm đoạn 5 cây, lụa các màu, the nam, sa nam, là nam mỗi thứ 10 tấm, 1 bộ đồ trà bịt vàng, một bát bịt vàng, 1 bát bịt bạc và 1 cái trống lớn.

Đối với sứ bộ Vạn Tượng, vua Minh Mạng tặng chánh sứ một áo chiến bằng gấm Tống đỏ, hai cây súng tây bằng kim loại; tặng phó sứ một áo chiến bằng nhung đoạn lam, một cây súng tây. Cả chánh, phó sứ còn được tặng mỗi người một xiêm bằng gấm Lào, một thanh đao mạ bạc, một cỗ cáng, một cái lọng. Các nhân viên tùy tùng trong sứ bộ đều được vua Minh Mạng tặng thưởng tiền bạc, xiêm áo.

Năm 1827, Xiêm đánh chiếm Vạn Tượng, Luông Phra-băng. Thủ lĩnh vùng Trấn Ninh là Chiêu Nội chạy sang Việt Nam xin nội thuộc.

Vua Vạn Tượng là A Nỗ bị Xiêm tiến công cũng chạy sang cầu cứu, nương nhờ nước ta. Minh Mạng cho quân sang Vạn Tượng. Quân Xiêm phải rút về Xiêm. Năm 1828, Minh Mạng cho quân đưa A Nỗ về Vạn Tượng. Tình hình Vạn Tượng được bình yên.

Quan hệ với Chân Lạp

Mùa xuân năm 1820, sau khi lên ngôi, vua Minh Mạng cho người mang thư sang Chân Lạp, tặng vua Chân Lạp 10 cây gấm Tống, 50 tấm lụa, 50 tấm vải và 10 tấm tườu lông (da khỉ).

Mùa thu năm đó, vua Chân Lạp là Nặc Chân sang đưa lễ tiến hương (phúng vua chết) và lễ khánh hạ (mừng vua mới). Lễ tiến hương gồm 500 cân sáp ong, 300 tấm vải trắng. Lễ khánh hạ gồm 55 cân bạch đậu khấu, 55 cân cánh kiến, 55 cân sáp ong, 2 đôi ngà voi, 2 cỗ sừng tê, 10 vò sơn.

Đáp lại, vua Minh Mạng cũng tặng vua Chân Lạp: 10 cây gấm Tống, 20 tấm tườu nam, 20 tấm sa nam, 20 tấm lụa bắc, 40 tấm vải đen, 40 tấm vải trắng. Ngoài ra, vua Minh Mạng còn tặng thêm 2 cây thiểm kim (vàng nhấp nhánh), 2 cây giám kim (lẫn vàng), 2 tấm đoạn lông màu đỏ, 4 tấm đoạn lông màu lam. Vua Minh Mạng tặng cho hai chánh, phó sứ Chân Lạp mỗi người 30 lạng bạc, 10 quan tiền; thông ngôn 10 lạng bạc, 5 quan tiền; quân đi theo mỗi người 2 lạng bạc, 2 quan tiền. Tất cả những người trong đoàn sứ thần này còn được tặng thêm nhiều thứ quà quý giá khác nữa...

Mùa xuân năm sau (1821), vua Chân Lạp là Nặc Chân dâng biểu xin nhà Nguyễn sai quan sang bảo hộ nước mình. Theo lời biểu, Minh Mạng cho tướng Nguyễn Văn Thụy cùng quan quân sang bảo hộ nước Chân Lạp. Tại đây, dân binh hai nước đều hiệp lực đào sông, kênh để thuận tiện cho việc đi lại và sản xuất. Một bia đá được dựng để ghi lại công trình hợp tác xây dựng giữa hai nước đã hoàn thành. Công việc bảo hộ Chân Lạp tiếp tục tới năm 1840, cuối đời Minh Mạng.

Quan hệ với nhà Thanh ở Trung Quốc

Cũng như các triều trước, vua Minh Mạng giữ quan hệ chặt chẽ với nhà Thanh cả hai mặt: Chính trị và kinh tế. Về mặt ngoại giao, Minh Mạng coi việc đi sứ sang Trung Quốc và tiếp sứ Thanh là quan trọng.

Tháng 9 năm Canh Thìn (1820), một sứ bộ do Ngô Vị là hữu tham tri bộ Lại làm chánh sứ sang Trung Quốc, có hai phó sứ đi cùng. Hai viên quan khác được cử làm chánh hậu mệnh và phó hậu mệnh đi lên cửa ải Lạng Sơn để giúp việc đi sứ. Trên đường đi, chánh sứ Ngô Vị bị ốm, chết ở Nam Ninh, tạm quàn thi hài tại Nam Ninh. Phó sứ Trần Bá Kiên thay Ngô Vị tiếp tục lên đường làm việc sứ. Đến tháng 4 năm Tân Tỵ (1821), sứ bộ Trần Bá Kiên tới triều đình nhà Thanh tại Yên Kinh.

Hai bên giao tiếp hữu nghị như vậy, nhưng chỉ được mươi năm. Năm 1830, người Thanh đúc tiền kẽm giống như tiền Việt Nam để đưa sang Việt Nam tiêu dùng, làm cho giá cả hàng hóa ở nước ta tăng vọt. Triều đình nhà Nguyễn phải ra lệnh cho các quan trấn ải ở biên giới kiểm soát thật chặt chẽ, không cho kẻ gian chở trộm tiền kẽm giả từ Trung Quốc sang. Năm sau (1831), nhà Thanh cho hơn 600 người đến chiếm đóng đồn Phong Thổ, đòi quân lính Việt Nam phải rút đi. Vua Minh Mạng cho tướng Đặng Văn Thiêm đem hơn 1.000 quân và 10 thớt voi tiến lên Hưng Hóa. Cuộc chiến diễn ra ác liệt, quân Thanh phải rút về nước. Vua Minh Mạng giao cho các thủ lĩnh thiểu số ở địa phương cai quản hai động Phong Thổ và Bình Lưu.

Năm 1832, bia địa giới Việt - Trung ở sông Đỗ Chú (phía Bắc Hà Giang) bị gãy. Bên bờ Bắc sông Đỗ Chú là đất Trung Quốc, bên bờ Nam sông Đỗ Chú là đất nước ta. Bia địa giới dựng từ thời Lê, có khắc chữ "An Nam quốc, Tuyên Quang trấn, Vị Xuyên giới chí, dĩ Đỗ Chú hà vi cứ", nghĩa là địa giới nước Nam lấy sông Đỗ Chú ở biên giới huyện Vị Xuyên, trấn Tuyên Quang làm căn cứ. Tuyên Quang thời xưa gồm cả hai tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang ngày nay.

Biết bia gãy, vua Minh Mạng cho dựng lại bia. Còn tại sao bia gãy thì không rõ. Chỉ có một thực tế là nhà Thanh thường xâm phạm vùng biên giới nước ta.

Không những thế, nhà Thanh còn cho người theo đường thủy lén lút xâm nhập nước ta để mua gạo đem về bán ở nước họ. Vua Minh Mạng phải ra lệnh cấm người Thanh không được mua gạo và cấm các thuyền buôn Việt Nam không được chở gạo sang bán ở Trung Quốc. Lệnh cấm bắt đầu từ năm 1832.

Đầu năm Đinh Dậu (1837), hơn 300 quân Thanh xâm lấn động Sơn Yên, thuộc châu Thủy Vĩ. Quân và dân ta ở Hưng Hóa đã đánh đuổi chúng về bên kia biên giới.

Tháng 12 năm Canh Tý (1840), vua Minh Mạng ốm nặng, ông cho mời các hoàng tử, các thân công và cơ mật viện đại thần Trương Đăng Quế vào hầu, để dặn dò việc nối ngôi và một số việc hệ trọng khác. Ngày 20-1-1841, vua Minh Mạng mất tại điện Quang Minh, hưởng thọ 50 tuổi, trị vì được 21 năm. Miếu hiệu là Thánh Tổ Nhân Hoàng Đế.

Đặng Việt Thủy

Bình luận

ZALO