Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Thứ hai, 02/08/2021 01:03 GMT+7

Từ những cứ liệu quý trên Báo Quân đội nhân dân:

Việt Nam luôn khẳng định chủ quyền theo đúng luật pháp quốc tế

Biên phòng - Lần giở lại những bài báo được đăng tải trên Báo Quân đội nhân dân trong các năm 1975, 1976 và về sau cho thấy: Việt Nam chưa bao giờ từ bỏ chủ quyền đối với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Hơn thế, việc công bố thông tin rộng rãi về giải phóng quần đảo Trường Sa trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử và thiết lập sự quản lý cùng các thiết chế hành chính sau này đã chứng minh Việt Nam luôn khẳng định chủ quyền theo đúng luật pháp quốc tế.

zael_6-1.JPG
Tin giải phóng Trường Sa được xuất hiện lần đầu trên báo ngày 6-5-1975.

Phản đối Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa

Những năm gần đây, để biện minh cho  tham vọng chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, Trung Quốc liên tục đưa ra nhiều chứng cứ bịa đặt, trong đó nổi bật là việc "bóp méo" Công thư năm 1958 của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Tại cuộc họp báo quốc tế do Bộ Ngoại giao Việt Nam tổ chức gần đây, Việt Nam một lần nữa tái khẳng định, Công thư trên không đề cập lãnh thổ chủ quyền, không đề cập hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.

Ngay cả khi có học giả cố tình hiểu sai Công thư và viện dẫn, về mặt pháp lý, theo thuyết estoppel (nguyên tắc), bức thư của Thử tướng Phạm Văn Đồng có sự ràng buộc với Việt Nam và Việt Nam bây giờ không có quyền nói ngược lại; thì lập luận này cũng không có cơ sở:

Dưới góc độ luật pháp quốc tế, PGS Nguyễn Bá Diến, Chủ nhiệm bộ môn Luật Quốc tế, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Giám đốc Trung tâm Luật Biển và Hàng hải Quốc tế cho rằng, Công thư không đáp ứng cả 4 điều kiện của thuyết này.

Vậy thuyết estoppel là gì? Theo thuyết này, một quốc gia phải nhất quán trong ứng xử và không được bác bỏ một thực tế đã được chính quốc gia này thừa nhận trước đó. Mục tiêu chính của nguyên tắc này là không cho phép một quốc gia được hưởng lợi hoặc gây thiệt hại cho một quốc gia khác thông qua cách ứng xử không nhất quán của mình.

Như vậy, theo thuyết estopel, thì phải hội đủ 4 điều kiện: (1) thái độ, lời tuyên bố của một quốc gia nhằm chấp nhận một tình trạng nào đó; (2) thái độ, lời tuyên bố đó phải được thể hiện rõ ràng; (3) thái độ, lời tuyên bố đó phải được thể hiện liên tục; (4) khiến cho một hoặc nhiều quốc gia khác dựa vào đó mà thay đổi hoạt động hoặc phải chịu thiệt hại. Trong khi, chỉ cần một trong 4 điều kiện không đáp ứng, công thư sẽ không có giá trị pháp lý.

Những cứ liệu trên Báo Quân đội nhân dân cho thấy điều kiện thứ ba của nguyên tắc estoppel, về tính "liên tục" của Công thư 1958 cũng không được đáp ứng. Bởi vì, không có bất kỳ minh chứng nào về việc sau Công thư đó, Quốc hội Việt Nam dân chủ cộng hòa hoặc cơ quan có thẩm quyền của Chính phủ Việt Nam cộng hòa "tiếp tục" thể hiện quan điểm từ bỏ chủ quyền. Ngược lại, theo Sách trắng Việt Nam 1981, ngay từ năm 1974, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đưa ra tuyên bố 3 điểm phản đối mạnh mẽ việc Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đoạt Hoàng Sa.

Ngay trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, sau chiến thắng Buôn Ma Thuột, Tây Nguyên tháng 3-1975, Đại tướng Võ Nguyên Giáp không chỉ nhận ra thời cơ chiến lược thống nhất đất nước, mà còn nghĩ ngay đến việc giải phóng các đảo trên Biển Đông. Đại tướng đã kiến nghị với Bộ Chính trị: "Vừa chuẩn bị cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng, vừa tiến hành giải phóng các đảo và quần đảo…".

Kiến nghị này được Bộ Chính trị đồng ý ghi vào Nghị quyết ngày 25-3-1975. Ngày 2-4-1975, Đại tướng Võ Nguyên Giáp trực tiếp chỉ thị cho đồng chí Lê Trọng Tấn: Phải nắm lực lượng Khu 5 và Hải quân để tổ chức tiến công giải phóng các đảo, đặc biệt là quần đảo Trường Sa. Lệnh của Đại tướng rất rõ: Khi thấy quân đội Sài Gòn nguy khốn thì lập tức tổ chức đánh chiếm các đảo. Trường hợp nước ngoài thừa cơ chiếm đảo thì ta kiên quyết chiếm lại, gặp khó khăn gì phải báo cáo Tổng hành dinh. Bộ đội đặc công Hải quân của ta đã mưu trí, dũng cảm giải phóng các đảo trên quần đảo Trường Sa. Ngày 29-4-1975, ta đã hoàn thành nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược này.

Như vậy, Việt Nam đã khẳng định ý chí bảo vệ chủ quyền với quần đảo Trường Sa rất rõ, không chỉ quyết tâm giải phóng đảo mà còn sẵn sàng kiên quyết đánh chiếm lại nếu bị nước ngoài chiếm.

Khẳng định chủ quyền trong chủ động thông tin trên báo chí

Ý thức khẳng định chủ quyền còn được thể hiện rất rõ qua việc chỉ đạo các cơ quan thông tấn, báo chí ghi lại hình ảnh, viết tin, bài kịp thời để công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng về sự kiện này. May mắn Báo Quân đội nhân dân là cơ quan báo chí được Bộ Tổng tham mưu QĐND Việt Nam tin tưởng chỉ đạo, cử hai phóng viên là Nguyễn Khắc Xuể (phóng viên ảnh), Nguyễn Thắng (phóng viên viết bài) đi theo Đoàn phái viên của Bộ Tổng tham mưu ra kiểm tra, tiếp tế cho quần đảo Trường Sa ngay sau ngày giải phóng và có mặt ở Trường Sa từ ngày 5-5-1975.

Thiếu tá Nguyễn Khắc Xuể, nguyên phóng viên Báo Quân đội nhân dân là nhân chứng tham gia chụp ảnh, viết bài về sự kiện giải phóng Trường Sa đã kể lại như sau: "Sáng 2-5-1975, tại tòa soạn Báo Quân đội nhân dân, số 7 Phan Đình Phùng, Hà Nội, tôi được Tổng biên tập Nguyễn Đình Ước gọi lên giao nhiệm vụ, nhận giấy giới thiệu có chữ ký của Trung tướng Lê Ngọc Hiền, Phó Tổng tham mưu trưởng QĐND Việt Nam để  đi Sài Gòn, tham gia Đoàn công tác của Bộ Tổng tham mưu ra quần đảo Trường Sa. Khi đến Quân cảng Cam Ranh, tôi và anh Nguyễn Thắng gặp Đại tá Hoàng Hữu Thái, Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân chủng Hải quân nhận nhiệm vụ tham gia Đoàn phái viên của Bộ Tổng tham mưu ra kiểm tra quần đảo Trường Sa vừa được giải phóng ít ngày. Đoàn khá đông, khoảng gần 20 người, đi trên ba con tàu".

Khi giao nhiệm vụ cho phóng viên, ông Thái nhấn mạnh phải chụp ảnh, viết bài nêu bật được việc ta đã làm chủ chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa, trong đó, có nhiều điểm nhấn như cột mốc, cờ Tổ quốc, sinh hoạt của bộ đội. Thực hiện nhiệm vụ này, ông Nguyễn Khắc Xuể đã chụp 4 cuộn phim ghi lại hình ảnh Trường Sa ngày đầu được giải phóng. Trong đó, có nhiều hình ảnh ghi đậm dấu ấn khẳng định chủ quyền như: Bộ đội kéo cờ trên đảo Sơn Ca, bộ đội huấn luyện, tăng gia sản xuất… Đặc biệt, qua nhiều bức ảnh do ông Khắc Xuể chụp cho thấy, trên tất cả các đảo đều có cột mốc (bia) chủ quyền, ghi rõ tên đảo, kinh độ, vĩ độ… do chính quyền Việt Nam cộng hòa lập trước đó như ảnh chụp tại các đảo Sơn Ca, Nam Yết, Trường Sa Lớn, Song Tử Tây…

Trong kho tư liệu của Báo Quân đội nhân dân hiện nay, còn lưu giữ rất nhiều bài báo, tuyên bố, hình ảnh khẳng định việc xác lập chủ quyền, kế thừa chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của nước CHXHCN Việt Nam từ chính quyền Việt Nam cộng hòa. Đặc biệt, số báo Quân đội nhân dân ra ngày 6-5-1975, đã đăng trên trang nhất: "Đảo Côn Sơn, đảo Phú Quốc, các đảo thuộc quần đảo Trường Sa và nhiều đảo khác ngoài bờ biển miền Nam Việt Nam đã được giải phóng" (xem ảnh). Tin này dẫn nguồn của Thông tấn xã Giải phóng nêu rõ sự kiện này diễn ra từ ngày 14-4-1975 đến ngày 29-4-1975.

Cũng trên trang nhất của số báo này còn có bài bình luận nói về sự kiện giải phóng các đảo với tiêu đề "Thắng lợi vẻ vang, giải phóng nhiều hòn đảo trên vùng biển của Tổ quốc" cũng nhắc đến sự kiện giải phóng Trường Sa. Ngoài các tin bài này, trong năm 1975, 1976, Báo Quân đội nhân dân còn có nhiều tin, bài về sự kiện giải phóng Trường Sa như: Bài báo viết về trận đánh giải phóng đảo Song Tử Tây trên Báo Quân đội nhân dân số ra ngày 27-5-1975, bài "Sống ở Trường Sa", loạt ký sự chân trang 16 kỳ "Sóng gió trên những đảo tiền tiêu" lần đầu viết tỉ mỉ về Trường Sa vào cuối năm 1976…

Những thông tin được công bố kịp thời, rộng rãi đó là minh chứng sinh động khẳng định chủ quyền nhất quán của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.

Trung Quốc đã im lặng

Ngược lại, đúng như PGS, TS Nguyễn Hồng Thao, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Biên giới quốc gia trong một tham luận tại hội thảo quốc tế về Biển Đông đã phản biện thêm một khía cạnh của nguyên tắc estoppel. Mặc dù viện dẫn tuyên bố ngày 4-9-1958 nhưng liên tiếp sau đó nhiều năm, Trung Quốc đã "giữ im lặng", không tỏ thái độ liên quan đến chủ quyền đối với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.

Cụ thể, Trung Quốc đã giữ im lặng đối với tuyên bố của Mỹ liên quan đến khu vực tác chiến của lực lượng vũ trang Mỹ tại Biển Đông vào năm 1965, bao gồm quần đảo Hoàng Sa. Điều này cho thấy Trung Quốc thờ ơ trong việc bảo vệ yêu sách chủ quyền của mình đối với Hoàng Sa khi bị nước ngoài "xâm lược"?

Tương tự, với việc Việt Nam dân chủ cộng hòa giải phóng quần đảo Trường Sa và công bố rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng, Trung Quốc đã không có những tuyên bố phản đối, khẳng định chủ quyền của mình.

Theo thông tin từ kho tư liệu của Báo Quân đội nhân dân, sự khẳng định chủ quyền quần đảo Trường Sa của Việt Nam là phù hợp luật pháp quốc tế được thể hiện bằng việc hình thành các thiết chế hành chính mà cụ thể là việc thành lập huyện đảo Trường Sa và tiến hành kỳ bầu cử HĐND đầu tiên vào năm 1983. Những hình ảnh này đã được ghi nhận và phản ánh đầy đủ trên Báo Quân đội nhân dân và nhiều cơ quan báo chí khác. 

Theo PGS Nguyễn Bá Diến, các luật gia quốc tế cũng đều cho rằng, không được căn cứ vào việc có người hay không có người ở để xác định chủ quyền của một vùng đất, mà phải căn cứ vào việc có một tổ chức Nhà nước nào thực sự có ở đó hay không. Với những hình ảnh và thông tin trên rõ ràng Việt Nam đã khẳng định chủ quyền của mình một cách liên tục và đúng luật pháp quốc tế đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.

Kho tư liệu Báo Quân đội nhân dân còn lưu giữ một tài liệu quan trọng khác thể hiện lập trường của Việt Nam đối với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa - Đó là Bị vong lục ngày 14-2-1979 của Bộ Ngoại giao Việt Nam đăng trên trang 1 và trang 4 Báo Quân đội nhân dân, số ra ngày 15-2-1979. Trong Bị vong lục này có đoạn nêu rõ: "Sự kiện nghiêm trọng là ngày 20-1-1974, Trung Quốc đã dùng quân đội đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Họ còn đưa ra những đòi hỏi vô lý về những hòn đảo khác của Việt Nam ở Biển Đông".

Tương tự với sự kiện Trung Quốc chiếm đóng trái phép một số đảo trên quần đảo Trường Sa của Việt Nam năm 1988, chiểu theo Bị vong lục của Trung Quốc năm 1988 khẳng định nguyên tắc: Xâm lược không sinh ra chủ quyền thì việc Trung Quốc chiếm đóng trái phép Hoàng Sa và một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam là hoàn toàn trái với pháp luật quốc tế và trái với chính tuyên bố của Trung Quốc.

Những tư liệu, thông tin, hình ảnh trên Báo Quân đội nhân dân từ năm 1975 về sau tiếp tục chứng minh Nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử đã xác lập và thực hiện chủ quyền của mình trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, là phù hợp với thực tế lịch sử và luật pháp quốc tế.
Nguyên Minh - Ngọc Hưng

Bình luận

ZALO