Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Thứ tư, 30/11/2022 07:13 GMT+7

Vị vua anh minh cùng Phật pháp cứu độ muôn dân

Biên phòng - Việc vị vua anh minh, tài ba Trần Nhân Tông sau 15 năm cai trị đất nước đã từ bỏ ngai vàng cùng cuộc sống đế vương để lên núi thiêng Yên Tử lập ra Thiền phái Trúc Lâm, vẫn còn là câu chuyện để các thế hệ sau cần phải nghiên cứu và tìm hiểu. Phải chăng, đó là thông điệp gửi gắm của ông về tư duy, nhãn quan dùng Phật pháp để cứu độ muôn dân, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

57fb3db12e7fb6a904000b3d
Cuộc đời xuất gia thành Phật của vua Trần Nhân Tông vừa được Nhà hát Cải lương Việt Nam tái hiện trên sân khấu qua vở cải lương "Vua Phật".  Ảnh: Khánh Ngọc

Triều đại nhà Trần với 3 lần lãnh đạo toàn dân đánh thắng quân xâm lược Nguyên Mông đã trở thành một trong những giai đoạn lịch sử hào hùng, oanh liệt nhất của dân tộc Việt Nam. Trang sử vẻ vang ấy ghi danh tên tuổi người anh hùng dân tộc Trần Nhân Tông, vị vua đời Trần dùng tư tưởng Phật giáo với triết lý khoan dung, từ bi, "Dựng đạo để xây đời".

Theo truyền thống của Trần tộc lúc bấy giờ, Phật giáo đã trở thành chuẩn mực và là thước đo ứng xử. Từ nhỏ, Trần Nhân Tông đã là một học trò ưu tú của Tuệ Trung Thượng sĩ (tên thật là Trần Tung), người bác trong hoàng tộc, rất uyên thâm về Phật giáo. Những triết lý sâu sắc của đạo Phật từ đó đã thấm nhuần và trở thành tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt trong quá trình lãnh đạo đất nước của ông.

Tư duy của ông luôn hướng tới việc thu phục lòng dân, cố kết nhân tâm, vun bồi trí đức, luôn tôn trọng và đề cao nhân dân trong công cuộc dựng nước và giữ nước. Tài năng trong nghệ thuật tập hợp sức mạnh toàn dân để giải quyết việc chung của ông được thể hiện rõ nét khi đất nước đứng trước họa xâm lăng của giặc phương Bắc. Ông triệu tập các tướng lĩnh để bàn kế sách và khẳng định quyết tâm đánh giặc tại Hội nghị Bình Than. Hội nghị Diên Hồng dành riêng cho các bô lão toàn quốc cũng bàn cách đánh giặc cứu nước. Đó là sự tôn trọng và dân chủ của một vị vua đối với quân và dân.

Trong khi khí thế chống giặc ngoại xâm đang hừng hực, có một số tộc trưởng vùng phên giậu tỏ ra lạnh nhạt, cứng đầu, bất tuân phục triều đình, Trần Nhân Tông không cứng nhắc dùng luật pháp hay sức mạnh quân đội trừng trị mà huy động những vị tướng giỏi, có uy tín, thấu hiểu phong tục tập quán vùng biên cương như Trần Nhật Duật tới tận nơi rừng xanh, núi thẳm để thu phục.

Trong lễ ban thưởng cho những người có công sau chiến thắng quân Nguyên Mông xâm lược, tới phần luận tội một số quan lại đã gửi thư xin hàng vì sợ thế giặc mạnh, vua Trần Nhân Tông không mở hòm đựng thư mà cho đốt trước Điện rồng. Việc làm ấy tránh được cảnh huynh đệ tương tàn, thù oán sau chiến tranh, tạo được lòng tin và sự kính trọng của quân dân đối với một vị Hoàng đế anh minh. Lòng khoan dung, độ lượng ấy đã khiến những người được tha thứ khắc cốt ghi tâm, một lòng phò vua giúp nước.

Trong bang giao với các nước lân bang, vua Trần luôn tôn trọng hòa bình, lấy hòa hiếu và sự tương trợ nhau để ứng xử, thắt chặt tình đoàn kết. Mối nhân duyên giữa công chúa Huyền Trân và vua Chế Mân, Vương quốc Chiêm Thành do Trần Nhân Tông sắp đặt thể hiện tâm nguyện mong muốn hòa bình, chuyển hóa nhân tâm, thay đổi dần một số tập tính của người Chiêm Thành, ngăn chặn những cuộc tương tàn có thể xảy ra giữa hai bên lúc bấy giờ.

Đối với kẻ thù xâm lược, nhìn thấy thây giặc chết ông cũng thương nên lệnh cho người chôn cất tử tế. Lịch sử còn ghi Hưng Trí Vương Trần Quốc Nghiễn - một trong 4 vị hoàng tử là danh tướng lập nhiều chiến công trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông, do mải truy kích quân giặc, chưa biết lệnh vua, đánh vào đoàn quân giặc thua trận chạy về nước, phạm tội sát kẻ thù đã quy hàng, vì thế mà vua không tính công ban thưởng. Sự anh minh rạch ròi ấy không chỉ quân thù phải tâm phục khẩu phục, mà quân dân trong nước cũng ngợi ca về một bậc minh quân anh hùng nhưng nhân hậu hết mực.

Sau 15 năm dưới quyền cai trị của vị Hoàng đế Trần Nhân Tông, Đại Việt đã trở thành một quốc gia hùng mạnh về chính trị, quân sự, văn hóa, kinh tế... Từ bỏ cuộc sống giàu sang, quyền quý, ông mặc chiếc áo nâu, đi hài cỏ và kết am tranh nơi núi rừng Yên Tử, cùng với hai Thiền sư kiệt xuất khác là Pháp Loa và Huyền Quang (gọi chung là Tam Tổ Trúc Lâm) lập ra Thiền phái Trúc Lâm. Ông đi tới khắp các thôn cùng, xóm vắng để lắng nghe tiếng nói của dân chúng, xem xét lòng dân, thuyết pháp, cứu giúp dân chúng thoát khỏi vô minh đau khổ và xây dựng tịnh độ nơi trần thế.

Ông mong muốn mỗi người ai cũng nhận ra chân lý sâu xa: "Phật là ta", tâm Phật trong tâm của mỗi người, phàm là con người ai cũng có tâm Phật. Chỉ cần tâm tĩnh lặng và soi sáng lại chính mình thì thấy mình là Phật, không phải tìm kiếm ở bên ngoài. Nếu mỗi người nhận ra và phát huy được vẻ đẹp thiện tâm ấy thì con người sẽ tránh được mọi hiềm khích, cuộc sống không còn khổ ải. Tam Tổ Trúc Lâm không khuyên chúng dân xuất gia vào chùa, mà khuyên mọi người tu ngay trong cuộc sống đời thường và khẳng định: "Sống nơi trần tục, đời thường mà thành người, phúc ấy mới lớn, mới được mọi người yêu kính; còn như vào rừng núi tu hành mà chẳng biết được lẽ đạo thì cái họa kia sẽ tới và việc tu hành thật uổng công".

"Cư trần lạc đạo" (ở đời vui đạo) là lối sống thanh tịnh và an lạc của Đệ Nhất Tổ Trúc Lâm và các thiền sư, cư sĩ Trúc Lâm khi đạt đạo. Sống ở đời, làm việc đời mà vẫn vui đạo, vui niềm vui của đạo, hay nói cách khác, sống vui đạo ngay cả trong đời thường. Đó là sự thống nhất một cách tự nhiên và sinh động giữa lối sống đời thường và hành trạng thiền sư, không cường điệu, giả tạo, gượng ép, không biệt lập, tách rời cuộc sống đời thường. Lối sống này đã tạo nên tinh thần nhập thế của Thiền phái Trúc Lâm, tạo nên sự gắn kết giữa đạo và đời, khiến đạo "đạo hơn" và đời sẽ "đời hơn". 

Chính giác ngộ thiện tâm "Phật là ta" ngay khi còn ngồi trên ngai vàng với tư tưởng Từ, Bi, Hỉ, Xả ấy đã giúp vị vua anh minh Trần Nhân Tông thu phục lòng dân, hóa giải mâu thuẫn, lãnh đạo dân chúng đánh thắng giặc ngoại xâm hung hãn, trở thành bản lĩnh tư tưởng đặc sắc và mạnh mẽ của Phật giáo thời Trần. Dù trên ngai vàng hay bất cứ vị trí nào, Trần Nhân Tông không chỉ giỏi điều binh khiển tướng đánh giặc ngoại xâm bảo vệ đất nước, mà còn là nhà chiến lược tài ba trong kiến thiết đất nước, là nhà văn hóa với nhiều kiệt tác thơ văn, nhà tu hành nhập thế luôn gắn đạo với đời. Ở lĩnh vực nào ông cũng đạt tới đỉnh cao của tài năng và trí tuệ thể hiện sự hào sảng của một bậc minh quân xuất thế trong chốn nhân gian.

Cuộc đời xuất gia thành Phật của vị vua anh minh Trần Nhân Tông cùng hành trình thuyết pháp, khơi dậy viên ngọc sáng Phật pháp trong tâm thức mỗi con người chính là thông điệp mà ông muốn gửi gắm tới thế hệ con cháu mai sau về một chân lý vũ trụ vĩnh hằng: "Thiện căn ở tại lòng ta”, "Phật ở trong tâm mỗi người". Hãy khơi dậy nó bằng cách soi sáng lại chính mình.

Khánh Ngọc

Bình luận

ZALO