Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Thứ tư, 21/04/2021 07:07 GMT+7

Các công trình nước sản xuất và sinh hoạt ở miền núi:

Vì sao kém hiệu quả?

Biên phòng - Những năm qua, từ nguồn vốn ngân sách, vùng miền núi, dân tộc đã được đầu tư nhiều công trình nước để phục vụ nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của người dân. Tuy nhiên, có một thực trạng của hầu hết các công trình là cái thì mới đưa vào sử dụng đã hư hỏng, cái thì bỏ không.

jfnm_13a-1.jpg
Thiếu nước sản xuất nên người dân bản Nậm Kè khó phát triển diện tích lúa nước.
 
Nhiều công trình nước "đắp chiếu"

Bản Nậm Kè 1 (xã Nậm Kè, huyện Mường Nhé, Điện Biên) có 66 hộ, với 375 nhân khẩu. Cả bản hiện có 33ha lúa nước (trong đó chỉ có 9ha lúa 2 vụ, còn lại là lúa một vụ). Tính bình quân mỗi hộ ở Nậm Kè chỉ có 0,5ha lúa, mỗi khẩu có 0,08ha. Anh Lò Văn Chiến, một người dân bản Nậm Kè 1 cho biết, nhà anh có 8 khẩu, nhưng cũng chỉ có vài sào lúa nước bậc thang.

Nguyên nhân khiến cho Nậm Kè 1 khó phát triển diện tích lúa nước được xác định là do ở đây thiếu nước sản xuất. Những tháng khô hạn, ở Nậm Kè 1 còn canh cánh lo không có nước sinh hoạt. Nhưng điều đáng bàn ở đây là, từ năm 2006, Nậm Kè 1 đã được đầu tư xây 8 bể nước tập trung từ nguồn vốn Chương trình 134 và 135 với chi phí hàng tỷ đồng. Tuy nhiên, hiện cả 8 bể đều không thể sử dụng.

Dẫn chúng tôi đi "tham quan" một trong 8 bể nằm ở trung tâm bản, Phó Chủ tịch UBND xã Nậm Kè, ông Lò Văn Vanh, lí giải: Vài năm đầu, 8 bể nước hoạt động rất hiệu quả, giải quyết tương đối tốt tình trạng thiếu nước sinh hoạt cho bà con trong những tháng cao điểm. Nhưng theo thời gian, với việc chặt phá rừng vô tội vạ, lũ quét làm hư hỏng đường ống dẫn nước nên 8 bể nước tiền tỷ từ ngân sách đành bỏ phí.

Rời Nậm Kè, chúng tôi lên bản Nậm Củm, xã Bum Nưa, huyện Mường Tè, Lai Châu. Bản có 26 hộ người dân tộc Mảng sinh sống. Cùng với tình trạng thiếu lương thực, người dân Nậm Củm còn thiếu nước sinh hoạt trầm trọng. Anh Lò Y Van, Trưởng bản Nậm Củm, cho biết, năm 2006, từ Chương trình 135, bản đã được xây dựng công trình nước sinh hoạt với 3 bể chứa. Nhưng trận lũ quét năm 2013 đã làm hư hỏng đường ống dẫn. Từ đó đến nay, người dân phải xuống suối "cõng" nước về dùng.

Nguyên nhân nào khiến cho các công trình nước sinh hoạt ở vùng núi lại "trơ gan" cùng mưa nắng như vậy? Lên Mường Tè hay vào Mường Nhé, chúng tôi đều nhận thấy, phần lớn chính quyền đều "đổ lỗi" cho ý thức sử dụng của người dân. Theo bà Bùi Thị Lập, Phó Chủ tịch UBND xã Bum Nưa (huyện Mường Tè), việc người dân không có ý thức bảo quản góp phần làm cho các công trình nước nhanh chóng bị hư hỏng.

Để dẫn chứng, bà Lập dẫn chúng tôi "thị sát" công trình đập đầu mối của bản Nậm Củm. Công trình được xây dựng phía trên bản, sau đó kéo đường ống xuống 3 bể chứa. Đơn vị thi công đã chôn đường ống dẫn nước sâu dưới đất. Ấy vậy mà người dân vẫn đào đường ống lên, cắt từng khúc để bán phế liệu.

"Nguyên nhân của hành động cắt ống nước bán lấy tiền của người dân Nậm Củm phải chăng là do họ thường xuyên lâm vào cảnh đói giáp hạt?" - Chúng tôi đặt câu hỏi.

"Cái chính là do ý thức sử dụng của bà con. Thiếu tiền mua rượu, mua thuốc (thuốc phiện - PV), họ làm vậy thôi. Xã vào tuyên truyền, vận động, họ đồng thuận, nhưng khi tổ tuyên truyền rút về thì đâu lại vào đó" - Bà Lập khẳng định.

Hé lộ của bà Phó Chủ tịch xã đã cho chúng tôi biết thêm một thực trạng đáng báo động ở Nậm Củm là nạn nghiện hút. Cả bản có 26 hộ thì 25 hộ có người nghiện. Theo bà Lập, khi cấp gạo cứu đói, bà con các bản khác thì đến trung tâm xã để nhận, riêng bản Nậm Củm, xã phải thuê phương tiện để chở gạo vào, cấp tận nơi. "Nếu để họ ra nhận thì trên đường về, họ sẽ bán cho bất cứ ai thu mua" - Bà Lập thở dài nói.

Qua câu chuyện với bà Phó Chủ tịch UBND xã Bum Nưa, có thể nhận thấy, nguyên nhân khiến các công trình nước nhanh hư hỏng là do ý thức sử dụng của người dân. Nhưng cũng cần phải khẳng định rằng, trong chuyện này, chính quyền cơ sở chưa làm hết trách nhiệm trong việc kiểm tra, giám sát, tuyên truyền, vận động. Bản Nậm Củm không quá xa trung tâm xã Bum Nưa nên việc kiểm tra, giám sát thường xuyên các công trình hạ tầng được đầu tư từ ngân sách là "việc trong tầm tay" của chính quyền xã. Tuy nhiên, do không kiểm tra nên các hạng mục hư hỏng không được sửa chữa kịp thời, dẫn tới cả công trình "đắp chiếu".

Đầu tư khó, không đầu tư cũng khó...

Tại thời điểm chúng tôi đến xã Sen Thượng, huyện Mường Nhé, đoàn giao mốc giới xây dựng công trình đập thủy lợi Khe To gồm lãnh đạo Phòng Dân tộc huyện, đại diện UBND xã và đơn vị thi công đang chuẩn bị cắt rừng để tìm vị trí mốc. Điểm đến giao mốc là bản giáp biên Tả Ló San, nơi sinh sống của 11 hộ dân tộc Hà Nhì.

"Vào đến bản, các anh còn phải đi bộ, men theo khe suối khoảng 2km nữa. Liệu các anh có đi được không?" - Chủ tịch UBND xã Sen Thượng Lỳ Phì Cà băn khoăn.

Dù đã chuẩn bị tâm lý, nhưng tôi vẫn thót tim khi ngồi sau xe máy của anh Lò Văn Hùng, Trưởng phòng Dân tộc huyện Mường Nhé. Phải mất gần 2 giờ, chúng tôi mới đi hết 30km đường núi ngoằn ngoèo, dốc lên dốc xuống để đến bản Tả Ló San. Bắt đầu từ đây, đoàn chúng tôi vạt cây rừng, men theo khe suối để đi. Điểm mốc để xây đập thủy lợi là nơi giao nhau của 2 khe nước chảy từ trên đỉnh núi Tả Ló San xuống. Theo thiết kế, đập sẽ đáp ứng nhu cầu tưới tiêu cho khoảng 10 ha lúa một vụ; Tổng vốn công trình chỉ được 1 tỷ đồng, từ nguồn Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo.

Anh Trần Quang Khánh - Giám đốc Doanh nghiệp xây dựng tư nhân Minh Hòa, đơn vị thi công đập, nhẩm tính: "Từ TP Điện Biên vào đây hơn 300km. Chưa kể nguyên vật liệu mà chỉ tính riêng chi phí khảo sát thiết kế, chi phí vận chuyển và nhân công trong điều kiện địa hình khó khăn này đã chiếm phần lớn vốn đầu tư rồi. Hơn nữa, xây dựng ở vị trí này nếu hư hỏng cũng khó sửa chữa lắm".

8kgd_13b-1.jpg
Đường ống dẫn nước vào bể chứa ở Nậm Củm bị cắt đem bán phế liệu.
 
Khó vậy nhưng huyện, xã và đơn vị thi công vẫn quyết tâm đầu tư xây dựng đập thủy lợi Khe To để 54 nhân khẩu người Hà Nhì ở bản Tả Ló San khai hoang trồng lúa nước, có điều kiện thoát cái đói năm nào cũng dai dẳng đeo bám. Ông Lỳ Khò Chờ, Trưởng bản Tả Ló San khẳng định: "Nếu có nước tưới tiêu thì dân bản sẽ thực hiện chủ trương khai hoang, trồng lúa nước một vụ, tự túc được lương thực". Mặc dù Trưởng bản Lỳ Khò Chờ đã "chắc như đinh đóng cột", nhưng ông Trưởng phòng Dân tộc huyện Lò Văn Hùng vẫn lo ngay ngáy: "Không biết khi có đập, nước dẫn về rồi, dân bản có chịu khai hoang, trồng lúa không nữa. Vì nhiều bản đã được xây đập, nhưng vẫn không chịu làm".

Lo lắng của ông Trưởng phòng Dân tộc huyện không phải là không có cơ sở. So với các bản khác thì Tả Ló San là bản có điều kiện để khai hoang, phát triển diện tích ruộng lúa nước bậc thang trên những quả đồi không quá dốc, nguồn nước khe luôn được đảm bảo. Nhưng từ thuở thành lập bản đến nay, 11 hộ dân tộc Hà Nhì ở Tả Ló San chủ yếu phát nương làm rẫy, sống dựa vào rừng.

Do vậy, tính đến tháng 3-2014, tỷ lệ hộ nghèo ở Tả Ló San vẫn "nằm" ở con số 100%. Năm nào dân bản cũng phải chờ gạo cứu đói giáp hạt. Riêng năm 2013, trước và sau Tết Nguyên đán, dân bản được cứu đói giáp hạt 2 lần. Chưa điện lưới, không sóng điện thoại, cuộc sống của 11 hộ dân Hà Nhì ở Tả Ló San vẫn quẩn quanh với đói nghèo.

Anh Khoàng Chu Pồ, một người dân của bản Tả Ló San cho biết: Từ trước tới nay, anh chỉ biết phát nương trồng ngô, trồng sắn; chưa biết trồng lúa nước. Nhà có 6 khẩu, một năm thì đã thiếu đói 6-7 tháng, nhưng hộ anh Pồ cũng như các hộ khác chưa hình dung được phải trồng lúa nước như thế nào để tự túc được lương thực. Còn Trưởng phòng Dân tộc Lò Văn Hùng thở dài: "Không đầu tư không được. Nhưng xây dựng rồi, làm thế nào để phát huy tác dụng công trình là cả một vấn đề nan giải".

Phải thấy rằng, để đầu tư xây dựng công trình đập thủy lợi thì nguồn vốn 1 tỷ đồng là quá ít. Nhưng để phục vụ nước tưới tiêu cho khoảng 10ha lúa nước một vụ, đảm bảo đời sống, sản xuất cho 11 hộ bản Tả Ló San thì con số 1 tỷ đồng không phải nhỏ. Cả nước có hàng nghìn bản khó khăn, cần được đầu tư như Tả Ló San, nếu nhân con số 1 tỷ đồng/công trình thì nguồn ngân sách phân bổ đầu tư phát triển sẽ là con số khổng lồ. 

Khánh Thư

Bình luận

ZALO