Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Thứ năm, 22/10/2020 04:08 GMT+7

Vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam thời kỳ mới

Biên phòng - Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ vĩ đại của cách mạng Việt Nam, nhà chiến lược quân sự thiên tài, Anh hùng giải phóng dân tộc, người Cha thân yêu của lực lượng vũ trang (LLVT) và Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh tư liệu

Người đã dành trọn cuộc đời mình để nghiên cứu lý luận, đề ra đường lối cách mạng Việt Nam, tổ chức xây dựng LLVT nhân dân và trực tiếp lãnh đạo sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Trong hệ thống di sản tư tưởng quý báu mà Người để lại cho nhân dân Việt Nam và nhân loại tiến bộ thế giới, tư tưởng về quân đội và xây dựng QĐND Việt Nam chiếm một vị trí trọng yếu, là nội dung cốt lõi trong tư tưởng quân sự của Người, có vai trò đặc biệt quan trọng chỉ đạo xuyên suốt quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của QĐND Việt Nam anh hùng. Đã hơn 50 năm Bác đi xa, nhưng tư tưởng đó của Người không chỉ được thực tiễn lịch sử khẳng định, mà giá trị và ý nghĩa hiện tại vẫn còn vẹn nguyên, mãi mãi soi sáng con đường cách mạng Việt Nam trong sự nghiệp củng cố quốc phòng, xây dựng Quân đội và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành tất cả tâm huyết, hết lòng chăm lo, xây dựng QĐND thành một đội quân cách mạng kiểu mới, mang bản chất của giai cấp công nhân, “là Quân đội nhân dân, do dân đẻ ra, vì dân mà chiến đấu, yêu nước, yêu dân”(1). Ngay trong Chánh cương vắn tắt do lãnh tụ Hồ Chí Minh soạn thảo khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (ngày 3-2-1930) đã chỉ rõ sự cần thiết phải “tổ chức ra quân đội công nông”, làm công cụ bạo lực cách mạng để “đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến”(2). Vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện của nước ta, kế thừa, phát triển các giá trị truyền thống quân sự của dân tộc và tinh hoa quân sự nhân loại, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương xây dựng LLVT gồm 3 thứ quân: Vệ quốc quân (bộ đội chủ lực), bộ đội địa phương và dân quân du kích, đồng thời chỉ đạo thực hiện tốt việc vũ trang toàn dân, dựa chắc vào nhân dân để xây dựng quân đội cách mạng. Tư tưởng ấy được thể hiện ngay trong Chỉ thị của Người về việc thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (ngày 22-12-1944) - tiền thân của QĐND Việt Nam ngày nay: “Sẽ chọn lọc trong hàng ngũ những du kích Cao-Bắc-Lạng số cán bộ và đội viên kiên quyết, hăng hái nhất và sẽ tập trung một phần lớn vũ khí để lập ra đội chủ lực…; cần phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân”(3). Với quan điểm “chính trị trọng hơn quân sự... nguyên tắc chính là nguyên tắc tập trung lực lượng”(4), trong quá trình tổ chức, lãnh đạo, Người luôn đặt lên hàng đầu việc xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, không ngừng bổ sung, hoàn thiện phương thức, cơ chế lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác Đảng, công tác chính trị (CTĐ, CTCT), đảm bảo sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội.

Ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, cùng với việc thực hiện sách lược ngoại giao khôn khéo để đối phó với “thù trong, giặc ngoài”, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trương tranh thủ thời gian hòa bình xây dựng, củng cố lực lượng, thành lập “Quân đội của nước Việt Nam là một Quân đội quốc gia”(5). Người chỉ rõ: “Chúng ta đang tổ chức quân đội quốc gia, chúng ta phải rút kinh nghiệm quý báu trong lịch sử kiến thiết quân đội của Liên Xô”(6). Thực hiện tư tưởng chỉ đạo của Người, trong suốt các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, QĐND Việt Nam không ngừng được chăm lo, xây dựng, phát triển, trở thành mô hình tổ chức quân sự độc đáo, sáng tạo của Đảng, phù hợp với cách đánh và nghệ thuật quân sự Việt Nam; vừa chiến đấu, vừa tự lực, tự cường xây dựng, phát triển lực lượng, hoàn thành xuất sắc chức năng “đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất”.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Quân đội ta tiếp tục được Trung ương Đảng và Bác Hồ lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng, phát triển về mọi mặt, chú trọng phát huy tinh thần chiến đấu dũng cảm, kiên cường của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân. Người chỉ rõ: Từ nay, mỗi một chiến sĩ, mỗi một cán bộ Vệ quốc quân, bộ đội địa phương và dân quân du kích cần phải phát huy tinh thần anh dũng của Quân giải phóng, cần phải thấm nhuần tư tưởng “kháng chiến nhất định thắng lợi nhưng phải trường kỳ và gian khổ”. Và căn dặn: Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương không nên chỉ biết đánh. Biết đánh là cái tốt, nhưng chỉ biết đánh mà coi nhẹ chính trị, kinh tế, tuyên truyền, giáo dục nhân dân là chỉ biết có một mặt. Nhờ đó, Quân đội ta đã trưởng thành không ngừng, không chỉ có bộ đội chủ lực mà từ năm 1949, phát triển thêm bộ đội địa phương, quy mô tổ chức bộ đội chủ lực đến cấp đại đoàn, với trang bị ngày càng hiện đại, tác chiến hiệp đồng binh chủng, góp phần cùng với toàn dân lập nhiều chiến công, thành tích xuất sắc, mà đỉnh cao là Chiến thắng Điện Biên Phủ (năm 1954) “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dự tính trước sự khốc liệt của chiến tranh; nếu không có sức mạnh tác chiến của bộ đội chủ lực chính quy thì sẽ rất khó để “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Người đã chỉ thị thành lập, phát triển các quân chủng, binh chủng, bảo đảm cho Quân đội ta có đủ các thành phần của một quân đội hiện đại, có chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu cao, có thể đánh bại địch cả trên bộ, trên không, trên biển. Với sự đồng bộ về cơ cấu, tổ chức, năng lực, trình độ tác chiến, có thế trận chiến tranh nhân dân phát triển ở tầm cao, Quân đội ta đã chớp thời cơ chiến lược, lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ, từng bước làm thay đổi cục diện chiến trường, tạo thế và lực hơn hẳn đối phương, tiến hành trận quyết chiến chiến lược, giành thắng lợi trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, kết thúc vẻ vang bằng Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và trong suốt hơn 30 năm tiến hành chiến tranh cách mạng mang dấu ấn đậm nét tư tưởng, nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh, tư duy chiến lược quân sự của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong đó nổi bật là nghệ thuật đánh địch bằng thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp; kết hợp chặt chẽ giữa tiến công quân sự với đấu tranh chính trị và ngoại giao; tổ chức tiến công liên tục, đánh thắng từng bước, tiến tới đánh bại hoàn toàn quân địch. Tư duy quân sự thiên tài đó bắt nguồn từ truyền thống anh hùng, bất khuất, từ kinh nghiệm đúc kết qua hàng nghìn năm dựng nước đi đôi với giữ nước của dân tộc Việt Nam và được soi sáng bởi lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin. Sau khi đất nước thống nhất, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân tiếp tục phải tiến hành các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc. Một lần nữa, thế trận chiến tranh nhân dân và vai trò của bộ đội chủ lực lại được phát huy, chiến đấu và giành chiến thắng, giữ vững độc lập, chủ quyền biên giới quốc gia, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quốc tế cao cả.

Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đấu tranh vũ trang và xây dựng QĐND rất toàn diện. Người quan tâm xây dựng, rèn luyện Quân đội từ chiến thuật đến tầm chiến lược; từ kinh nghiệm chiến đấu của cha ông cho đến những kiến thức tác chiến hiện đại; từ kinh nghiệm đánh du kích đến tác chiến chính quy hiệp đồng quân, binh chủng; từ tổ chức xây dựng lực lượng đến cách huấn luyện, tổ chức chiến đấu cho bộ đội; dạy cách xây dựng tình đoàn kết cán-binh, đoàn kết quân dân… Người chỉ rõ là đội quân cách mạng, nên mọi cán bộ, chiến sĩ phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, có kỷ luật nghiêm minh, trên dưới đoàn kết một lòng, đồng cam cộng khổ “Vệ Quốc quân, dân quân du kích phải luôn luôn phát triển cái kỷ luật nghiêm như sắt, cái tinh thần vững như đồng, cái chí khí quật cường tất thắng, cái đạo đức: Trí, dũng, liêm, trung của Giải phóng quân”(7). Trong bức thư gửi Báo Vệ quốc quân tháng 3-1947, Bác cũng nêu rõ những điều cần phổ biến ngay, phổ biến thường xuyên tới bộ đội: “(1) Mỗi việc đều phải theo mệnh lệnh cấp trên; (2) Tuyệt đối không đem của công dùng vào việc tư; (3) Không động đến một cái kim, sợi chỉ của dân; (4) Khi đến đóng, lúc kéo đi, phải giữ gìn nhà, vườn của dân cho sạch sẽ; (5) Nói năng cử động phải giữ lễ phép, phải kính người già, yêu trẻ con...”(8). Đây là những nội dung cốt lõi để hình thành nên phẩm chất, đạo đức của quân nhân cách mạng, xây dựng nên phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ.

Không chỉ quan tâm chăm lo xây dựng Quân đội, Người còn dành cho cán bộ, chiến sĩ tình thương yêu bao la, sâu sắc, như tình cảm người cha dành cho con. Đến bây giờ, mỗi cán bộ, chiến sĩ vẫn trào dâng niềm xúc động khi nhớ lại những hình ảnh Bác vào Nghệ An để thăm bộ đội miền Nam tập kết ra Bắc; Bác ra tận thao trường thăm bộ đội diễn tập; khi tuổi đã cao, Bác vẫn đến thăm Bộ đội Phòng không Hà Nội trực chiến giữa trưa hè nóng bỏng, rồi sau đó dành hết tiền tiết kiệm của mình để mua nước uống tặng bộ đội… Mỗi lần đến thăm bộ đội, bao giờ Bác cũng quan tâm đến đời sống của các cán bộ, chiến sĩ. Bác căn dặn các đồng chí chỉ huy: “Cán bộ phải thương yêu săn sóc đội viên. Cán bộ phải chăm lo cho đội viên đủ ăn, đủ mặc. Cán bộ phải coi đội viên như chân tay, thì đội viên mới coi cán bộ như đầu, như óc…”(9). Bác còn dặn: “Từ tiểu đội trưởng trở lên, từ Tổng tư lệnh trở xuống, phải săn sóc đời sống vật chất và tinh thần của đội viên, phải xem đội viên ăn uống như thế nào… Bộ đội chưa ăn cơm, cán bộ không được kêu mình đói. Bộ đội chưa đủ áo mặc, cán bộ không được kêu mình rét. Bộ đội chưa đủ chỗ ở, cán bộ không được kêu mình mệt. Thế mới dân chủ, mới đoàn kết, mới tất thắng”(10). Đáp lại tình thương yêu của Người, cán bộ, chiến sĩ Quân đội đã ra sức phấn đấu, rèn luyện, học tập, công tác, chiến đấu, vượt lên mọi hy sinh, gian khổ, thực hiện đúng lời dạy của Người: “Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”(11).

Hiện nay, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta đang đứng trước những thời cơ và thách thức đan xen. Tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường. Các thế lực thù địch, phản động tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội. Nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia, chủ quyền biển, đảo đang đứng trước những yêu cầu mới, đòi hỏi chúng ta phải có những đối sách phù hợp, trên cơ sở kiên định, nhất quán với chủ trương, đường lối của Đảng về quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Trước tình hình đó, hơn bao giờ hết, QĐND càng phải thể hiện rõ vai trò nòng cốt trong bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, bảo vệ thành quả cách mạng. Để hoàn thành trọng trách vẻ vang, nhiệm vụ thiêng liêng đó, chúng ta cần vận dụng sáng tạo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào nhiệm vụ xây dựng QĐND thời kỳ mới, trong đó tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ cơ bản sau:

Một là, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội, tập trung xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị

Bất luận trong hoàn cảnh, điều kiện nào cũng phải kiên định nguyên tắc Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức và lãnh đạo QĐND Việt Nam “tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt”. Đó là yếu tố cơ bản nhất, có ý nghĩa quan trọng bậc nhất, quyết định bản chất cách mạng, phương hướng, mục tiêu chiến đấu của Quân đội, bảo đảm cho Quân đội tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Trong đó, vấn đề then chốt, có ý nghĩa quyết định nhất, là phải thường xuyên xây dựng, kiện toàn hệ thống tổ chức đảng từ cấp toàn quân đến cơ sở trong sạch, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo toàn diện và sức chiến đấu cao; chấp hành nghiêm nguyên tắc tập thể lãnh đạo, phân công cá nhân phụ trách.

Trong điều kiện hiện nay, cần coi trọng tổng kết thực tiễn, tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội; tập trung xây dựng Đảng bộ Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; gương mẫu thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng Đảng với bảo vệ Đảng, không để “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, chủ động đấu tranh làm thất bại âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, giữ nghiêm kỷ luật Đảng. Trước mắt, tập trung chuẩn bị chu đáo, tổ chức tốt đại hội đảng các cấp và Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, góp phần vào thành công Đại hội XIII của Đảng.

Thực hiện lời dạy của Bác, Quân đội ta: “Phải học tập chính trị: Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại. Quân đội ta là quân đội nhân dân. Nhân dân có Đảng lãnh đạo, Đảng có chính cương, chính sách. Đã là Quân đội nhân dân thì phải học chính sách của Đảng... Học tập chính cương chính sách của Đảng cho hiểu mà làm cho đúng tức là thực hành Chủ nghĩa Mác-Lênin”(12), toàn quân cần không ngừng đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả CTĐ, CTCT, duy trì “linh hồn, mạch sống của Quân đội”. Trước hết, phải làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, bảo vệ chính trị nội bộ, làm cho cán bộ, chiến sĩ thấm nhuần sâu sắc Chủ nghĩa Mác-Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chức năng, nhiệm vụ, bản chất cách mạng, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội. Đồng thời, đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, Phong trào Thi đua Quyết thắng, Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”; kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện sai trái, tiêu cực... Qua đó, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, vững chắc về ý chí, niềm tin, trách nhiệm chính trị; xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức cách mạng trong sáng, ý thức tổ chức kỷ luật tự giác, nghiêm minh; giữ vững bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc. Trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, toàn quân luôn là một khối đoàn kết, thống nhất, trung thành vô hạn, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước, gắn bó mật thiết với nhân dân, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, sẵn sàng hy sinh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, đúng với quan điểm “người trước, súng sau” của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Hai là, thực hiện tốt công tác nghiên cứu, dự báo, tham mưu chiến lược về quân sự, quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống

Khi thành lập Bộ Tổng Tham mưu-cơ quan tham mưu chiến lược của Đảng về quân sự, quốc phòng, Bác Hồ đã dạy: “… tổ chức nắm địch, nắm ta rõ ràng, bày mưu kế khôn khéo; tổ chức chỉ huy thông suốt, bí mật, nhanh chóng, kịp thời, chính xác để đánh thắng mọi kẻ thù, bảo vệ cách mạng”(13). Thực hiện lời dạy của Người, các cơ quan tham mưu chiến lược cần chủ động phối hợp chặt chẽ với các lực lượng triển khai đồng bộ các biện pháp, nắm chắc âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, dự báo chính xác tình hình quốc tế, khu vực, trong nước, cùng những động thái mới và xu hướng phát triển, biến động của tình hình quốc phòng, an ninh trên thế giới. Kịp thời tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước những đối sách để xử lý đúng đắn các tình huống chiến lược; chủ động ngăn ngừa, phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi, không để bị động, bất ngờ, nhất là trên địa bàn chiến lược, trọng điểm, trên không và trên biển, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa.

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đánh dấu bước phát triển vượt bậc về nghệ thuật quân sự (NTQS) của Quân đội ta. Đó là NTQS của toàn dân đánh giặc, kết hợp chặt chẽ quân sự với chính trị, tác chiến với binh vận, tiêu diệt địch với phát động quần chúng giành quyền làm chủ; phối hợp chặt chẽ tác chiến của ba thứ quân, của các binh chủng, quân chủng, đánh du kích và đánh tập trung, đánh nhỏ, đánh vừa và đánh lớn. Vận dụng kinh nghiệm đó vào tình hình hiện nay, toàn quân cần tích cực nghiên cứu, vận dụng NTQS phù hợp với yêu cầu tác chiến mới, bảo đảm luôn chủ động trong các tình huống chiến lược; kịp thời điều chỉnh, bổ sung quyết tâm, kế hoạch tác chiến, tích cực luyện tập các phương án; duy trì nghiêm nền nếp, chế độ sẵn sàng chiến đấu (SSCĐ), quản lý chặt chẽ vùng trời, vùng biển, biên giới và các địa bàn trọng điểm về quốc phòng, an ninh. Kết hợp chặt chẽ giữa huấn luyện, diễn tập với nâng cao khả năng cơ động SSCĐ; xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc, “thế trận lòng dân” vững mạnh; điều chỉnh hợp lý thế bố trí quốc phòng; ưu tiên xây dựng thế trận, hệ thống công trình phòng thủ ở địa bàn chiến lược; tích cực tham gia xây dựng quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án phát triển kinh tế-xã hội gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh. Phối hợp chặt chẽ giữa Quân đội và Công an trong xử lý các tình huống về quốc phòng, an ninh, góp phần bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội và nhiệm vụ quốc phòng.

Trên hướng biển, cần phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng: Phòng không-Không quân, Hải quân, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển, Kiểm ngư với các quân khu và địa phương có biển, đảo để thực hiện tốt nhiệm vụ kiểm tra, quản lý, giám sát, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh có hiệu quả với các hành động xâm phạm chủ quyền biển, đảo, thềm lục địa của Tổ quốc. Trên khu vực biên giới đất liền, bộ đội địa phương, biên phòng và công an kết hợp chặt chẽ trong tuần tra, quản lý, bảo vệ biên giới; gắn xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân (QPTD) với thế trận an ninh nhân dân và thế trận biên phòng toàn dân, sẵn sàng đối phó thắng lợi với mọi tình huống xâm phạm chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia, xây dựng khu vực biên giới hòa bình, hữu nghị.

Ba là, không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của QĐND, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc cả trước mắt và lâu dài

Đây là một trong những nhiệm vụ chính trị xuyên suốt của toàn quân. Phát huy kết quả đã đạt được thời gian qua, Quân đội tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả các kết luận, nghị quyết của Bộ Chính trị về tổ chức Quân đội đến năm 2021; đẩy mạnh sắp xếp, điều chỉnh tổ chức, biên chế theo hướng “tinh, gọn, mạnh”, cơ cấu đồng bộ, hợp lý giữa các lực lượng. Tiếp tục đột phá đổi mới, nâng cao chất lượng huấn luyện, giáo dục, đào tạo, rèn luyện kỷ luật, xây dựng nền nếp chính quy, tạo sức mạnh và khả năng SSCĐ, xây dựng QĐND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đủ sức làm nòng cốt cùng toàn dân bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Toàn quân quán triệt, thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về công tác huấn luyện chiến đấu, nhất là Nghị quyết số 765-NQ/QUTW ngày 20-12-2012 về nâng cao chất lượng huấn luyện giai đoạn 2013-2020 và những năm tiếp theo; tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, đề ra các giải pháp mới trong huấn luyện, SSCĐ, phù hợp với sự phát triển tư duy của Đảng về quốc phòng, quân sự và yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Chú trọng đẩy mạnh đổi mới nội dung, hình thức tổ chức và phương pháp huấn luyện, diễn tập sát thực tế chiến đấu, địa bàn hoạt động, đối tượng tác chiến và tổ chức biên chế, trang bị, yêu cầu tác chiến trong điều kiện chiến tranh công nghệ cao. Tăng cường huấn luyện, diễn tập theo nhiệm vụ, tình huống tác chiến và nâng cao khả năng cơ động; kết hợp chặt chẽ giữa huấn luyện với luyện tập, diễn tập, huấn luyện quân sự với giáo dục chính trị, rèn luyện kỷ luật, xây dựng niềm tin vào cách đánh, vũ khí, trang bị hiện có. Đặc biệt, tập trung huấn luyện làm chủ vũ khí, trang bị thế hệ mới, hiện đại; nâng cao chất lượng huấn luyện, diễn tập tác chiến hiệp đồng giữa các quân, binh chủng và tác chiến khu vực phòng thủ... Công tác huấn luyện quân sự phải gắn với giáo dục chính trị, rèn luyện thể lực, sức chịu đựng cho bộ đội, nâng cao bản lĩnh, quyết tâm, khả năng cơ động cao trong mọi tình huống, thực hiện đúng lời Bác Hồ dạy: “Nếu anh em tư tưởng vững, chính trị vững, kỹ thuật khá, thân thể khỏe mạnh thì nhất định thắng”(14). Cùng với đó, đẩy mạnh xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, mẫu mực, tiêu biểu, duy trì chấp hành nghiêm pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội; chú trọng ứng dụng thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư vào nghiên cứu phát triển NTQS, cách đánh, phù hợp với điều kiện mới của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc; phát triển khoa học, công nghệ quân sự, công nghiệp quốc phòng, nhằm đẩy nhanh hơn nữa tiến trình hiện đại hóa Quân đội, trước hết là các lực lượng được xác định tiến thẳng lên hiện đại, tạo bước chuyển mang tính đột phá về trình độ, khả năng SSCĐ, sức mạnh chiến đấu của Quân đội.

Bốn là, phát huy vai trò nòng cốt của Quân đội trong xây dựng nền QPTD, thế trận QPTD, gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc

Xây dựng nền QPTD vững mạnh toàn diện, ngày càng hiện đại là một chủ trương chiến lược quan trọng của Đảng, Nhà nước, là sự phát triển cao của nghệ thuật chiến tranh nhân dân Việt Nam. Đây là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và cả hệ thống chính trị, trong đó QĐND giữ vai trò nòng cốt. Ngay từ khi ra Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Vì cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến của toàn dân, cần phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân, cho nên trong khi tập trung lực lượng để lập một đội quân đầu tiên, cần phải duy trì lực lượng vũ trang trong các địa phương cùng phối hợp hành động và giúp đỡ về mọi phương diện. Đội quân chủ lực trái lại có nhiệm vụ dìu dắt cán bộ vũ trang của các địa phương, giúp đỡ huấn luyện, giúp đỡ vũ khí nếu có thể được, làm cho các đội này trưởng thành mãi lên…”(15). Trong thực tiễn các cuộc chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc, nền QPTD, thế trận QPTD chuyển hóa thành thế trận chiến tranh nhân dân đã tỏ rõ sức mạnh vô địch, là nền tảng để đánh bại mọi kẻ thù xâm lược.

Để nâng cao chất lượng xây dựng nền QPTD, các cơ quan, đơn vị, nhất là cơ quan quân sự địa phương các cấp tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm túc Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 22-9-2008 của Bộ Chính trị (khóa X), Kết luận số 64-KL/TW ngày 30-10-2019 của Bộ Chính trị (khóa XII); Nghị định số 21/2019/NĐ-CP ngày 22-2-2019 của Chính phủ gắn với thực hiện Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Chiến lược Quốc phòng Việt Nam, Chiến lược Quân sự Việt Nam, Luật Quốc phòng, các chiến lược chuyên ngành và Luật Dân quân tự vệ (sửa đổi), Luật Lực lượng dự bị động viên... Chủ động tham mưu cho cấp ủy, chính quyền và phối hợp với các lực lượng đẩy mạnh xây dựng nền QPTD, thế trận QPTD gắn với thế trận an ninh nhân dân, xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc. Chú trọng đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho các đối tượng; tham mưu đẩy mạnh kết hợp phát triển kinh tế-xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh, đối ngoại; nghiên cứu xây dựng, hoàn thiện cơ chế, quy chế lãnh đạo, điều hành xây dựng, hoạt động khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố và phòng thủ quân khu; kiện toàn, nâng cao hiệu quả hoạt động của hội đồng, ban chỉ đạo về quân sự, quốc phòng ở các cấp, ban chỉ huy quân sự bộ, ngành Trung ương và cơ sở; tập trung xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên vững mạnh. Đặc biệt, tăng cường xây dựng tiềm lực, thế trận khu vực phòng thủ, trọng tâm là xây dựng “thế trận lòng dân”, thế trận quân sự, nhất là trên các địa bàn trọng điểm, chiến lược, biên giới, biển, đảo. Cùng với đó, các đơn vị Quân đội thực hiện tốt chức năng quản lý về quốc phòng; tiếp tục phát huy vai trò “đội quân công tác”, tích cực thực hiện công tác dân vận, tuyên truyền đặc biệt, tham gia xây dựng hệ thống chính trị cơ sở, giúp nhân dân xóa đói giảm nghèo và phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai; đẩy mạnh xây dựng, nâng cao hiệu quả hoạt động của các khu kinh tế-quốc phòng… nhằm góp phần xây dựng thế trận QPTD, “thế trận lòng dân” vững chắc, tạo nền tảng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

Năm là, tăng cường tiềm lực khoa học công nghệ, vũ khí, trang bị, đối ngoại quốc phòng, bảo đảm hậu cần, kỹ thuật, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới

Khoa học công nghệ quân sự, vũ khí trang bị, phương tiện, khí tài, vật tư quốc phòng... là cơ sở vật chất, bảo đảm cho Quân đội hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ. Nói chuyện về tình hình và nhiệm vụ trước mắt của Quân đội tại Hội nghị cao cấp toàn quân ngày 20-3-1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Phải xây dựng quân đội ngày càng hùng mạnh và sẵn sàng chiến đấu để giữ gìn hòa bình, bảo vệ đất nước”(16). Trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, sở dĩ giành thắng lợi trước đội quân nhà nghề hùng hậu (Pháp, Mỹ) với vũ khí, trang bị hiện đại là do chúng ta biết phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sức mạnh của ý chí, chính trị, tinh thần, muôn người như một, dốc sức người, sức của, bảo đảm vũ khí, trang bị, cơ sở vật chất kỹ thuật, hậu cần cho chiến tranh.

Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, tinh thần đó luôn được phát huy và khẳng định trong thực tiễn. Cùng với yếu tố con người là quyết định, thì việc phát triển khoa học công nghệ quân sự, bảo đảm vũ khí, trang bị kỹ thuật có ý nghĩa hết sức quan trọng. Quân đội phải được quan tâm đầu tư, bảo đảm tốt vũ khí, trang bị đáp ứng nhiệm vụ huấn luyện, SSCĐ, theo hướng hiện đại hóa ở cả ba phương thức: Cải tiến, khôi phục; chế tạo, sản xuất trong nước; mua sắm trang bị. Trong đó, chú trọng hiện đại hóa vũ khí, trang bị cho các lực lượng được xác định tiến thẳng lên hiện đại; đồng thời, phát huy vai trò của ngành công nghiệp quốc phòng, nâng cao năng lực chế tạo vũ khí, trang bị kỹ thuật cho LLVT nhân dân, nhất là QĐND.

Với ngành hậu cần, kỹ thuật, tiếp tục thực hiện tốt Phong trào “Ngành hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy” và Cuộc vận động “Quản lý, khai thác vũ khí, trang bị kỹ thuật tốt, bền, an toàn, tiết kiệm và an toàn giao thông”. Toàn quân cần chủ động triển khai đồng bộ các giải pháp, phân cấp và đổi mới phương thức tạo nguồn vật chất hậu cần; đổi mới cơ chế quản lý tài chính; tổ chức nuôi dưỡng bộ đội, tăng gia sản xuất theo hướng bền vững, bảo đảm vệ sinh môi trường, an toàn thực phẩm, phòng, chống dịch bệnh, chăm sóc sức khỏe bộ đội. Ngành kỹ thuật chỉ đạo thực hiện tốt Nghị quyết số 382/NQ-ĐUQSTW ngày 29-11-2007 của Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương) về lãnh đạo công tác kỹ thuật trong tình hình mới; thực hiện có hiệu quả các chương trình mua sắm, sản xuất, sửa chữa, tăng hạn, cải tiến, hiện đại hóa, đồng bộ vũ khí, trang bị kỹ thuật, đáp ứng yêu cầu bảo đảm kỹ thuật cho các nhiệm vụ của Quân đội.

Tiếp tục mở rộng quan hệ hợp tác quốc phòng với các nước theo quan điểm, đường lối đối ngoại của Đảng; đẩy mạnh quan hệ hợp tác quốc phòng song phương và đa phương đi vào thực chất, hiệu quả; chú trọng hợp tác trong đào tạo, mua sắm vũ khí, trang bị và khoa học công nghệ quân sự; tăng cường đối thoại quốc phòng, góp phần xây dựng lòng tin, cân bằng quan hệ với các nước lớn, nâng cao vị thế của Quân đội và đất nước trên trường quốc tế.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng QĐND là tài sản tinh thần vô cùng quý báu của Đảng, Nhà nước, nhân dân và Quân đội ta, mãi mãi soi đường dẫn lối cho sự nghiệp xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Khắc ghi lời dạy của Người, cán bộ, chiến sĩ toàn quân nguyện đoàn kết một lòng, nỗ lực phấn đấu, không ngừng phát huy bản chất, truyền thống tốt đẹp, xây dựng QĐND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao; góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Đại tướng NGÔ XUÂN LỊCH, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng

----------

(1) Hồ Chí Minh, Với các lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb QĐND, Hà Nội, 1975, tr. 123.

(2) Hồ Chí Minh-Toàn tập, Tập 3, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tr.1.

(3) Hồ Chí Minh-Toàn tập, Tập 3, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tr.539.

(4) Hồ Chí Minh-Toàn tập, Tập 3, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tr.539.

(5), (6). Hồ Chí Minh-Toàn tập, Tập 4, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tr.568.

(7) Hồ Chí Minh-Toàn tập, Tập 5, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995, tr.330.

(8) Hồ Chí Minh-Toàn tập, Tập 5, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995, tr.115.

(9) Hồ Chí Minh-Toàn tập, Tập 7, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tr.219.

(10) Hồ Chí Minh-Toàn tập, Tập 7, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tr.77.

(11) Hồ Chí Minh-Toàn tập, Tập 14, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tr.435.

(12) Hồ Chí Minh-Toàn tập, Tập 7, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tr.217, 218.

(13) Bộ Tổng Tham mưu QĐND Việt Nam, truyền thống hào hùng, chiến thắng vẻ vang, Nxb QĐND, Hà Nội, 2015, tr.20.

(14) Hồ Chí Minh-Toàn tập, Tập 7, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tr.219.

(15) Hồ Chí Minh, Với các lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb QĐND, Hà Nội, 1975, tr.9.

(16) Hồ Chí Minh-Toàn tập, Tập 4, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 568.

Bình luận

ZALO