Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Thứ hai, 01/03/2021 01:28 GMT+7

Tự hào người chiến sĩ cảm tử thành Hà Nội

Biên phòng - Nhân dịp kỷ niệm 70 năm Ngày toàn quốc kháng chiến (19/12/1946 - 19/12/2016), Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam đã tổ chức triển lãm chuyên đề "Bản hùng ca mùa Đông năm 1946". Tại triển lãm, tôi đã được gặp Đại tá Nguyễn Trọng Hàm, nguyên Phó Tham mưu trưởng Quân khu Thủ đô (nay là Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội) và được nghe ông kể về 60 ngày đêm khói lửa của Hà Nội trong mùa Đông năm 1946, một mùa đông mà vận mệnh của Tổ quốc đang như "ngàn cân treo sợi tóc", nhưng cũng là mùa đông mà lòng người hòa trong hồn nước thiêng liêng, sục sôi khí thế "Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh".

58588fa58852ddcc3e0007a4
 Đại tá Nguyễn Trọng Hàm vẫn nhớ như in thời khắc lịch sử 70 năm về trước. Ảnh: Thanh Thuận

 Vũ khí quan trọng nhất là lòng yêu nước

Vào một buổi chiều mùa Đông năm 2016, Đại tá Nguyễn Trọng Hàm trong bộ lễ phục trắng, trên ngực áo lấp lánh huân chương cùng một số cán bộ lão thành cách mạng bồi hồi xúc động trước những tư liệu và kỷ vật được trưng bày trong triển lãm "Bản hùng ca mùa Đông năm 1946". Trò chuyện với Đại tá Nguyễn Trọng Hàm, tôi được biết ông năm nay đã ở tuổi 95, nhưng trí nhớ vẫn còn rất minh mẫn. Ký ức về 60 ngày đêm mùa Đông năm ấy ở Hà Nội vẫn còn in đậm trong tâm trí ông. Giọng nói ông vẫn sang sảng, khí thế khi kể về những ngày mùa Đông năm 1946 với những trận chiến tấn công quân địch của Trung đoàn Thủ đô tại trung tâm thành phố Hà Nội nhằm giam chân quân Pháp, bảo vệ Hà Nội để Chính phủ non trẻ của chúng ta rút lên chiến khu Việt Bắc, tổ chức kháng chiến.

Đại tá Nguyễn Trọng Hàm sinh ra và lớn lên ở phố Hàng Thiếc, Hà Nội. Ông tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1944, với nhiệm vụ tuyên truyền, rải truyền đơn chống thực dân Pháp giữa lòng Hà Nội. Tháng 5-1945, ông đã làm cho quân Nhật khiếp sợ, khi trực tiếp tiêu diệt một tên quan năm Nhật tại Thủ đô. Khi toàn quốc kháng chiến, ông được bổ nhiệm là Đại đội trưởng Đại đội tự vệ phố Hàng Thiếc, khu tự vệ Đông Thành, Liên khu I (sau này là Trung đội trưởng Trung đội 2, Tiểu đoàn 102, Trung đoàn Thủ đô). Trung đội 2 do ông chỉ huy có 36 cán bộ, chiến sĩ. Ông đã cùng các đội viên tự vệ sục sôi ý chí chiến đấu, tuyên thệ trước Quốc kỳ: "Tự vệ thành sống chết với Thủ đô", "Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh".

Ra đời trong những ngày toàn quốc kháng chiến, các chiến sĩ Trung đoàn Thủ đô đại diện cho một thế hệ quyết tử với ý chí: Thề hy sinh đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ Thủ đô. Trong đó, Trung đội 2 có nhiệm vụ giữ chân địch một thời gian dài để tạo điều kiện cho đất nước chuyển từ thời bình sang thời chiến cũng như bảo vệ an toàn các cơ quan đầu não của Đảng và Nhà nước, phục vụ cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc.

Đại tá Nguyễn Trọng Hàm bộc bạch: "Về mặt chiến lược của chúng ta lúc đó vẫn là mềm dẻo, linh hoạt nhằm cứu vãn hòa bình, đúng như lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: "Chúng ta muốn hòa bình". Tuy nhiên, chúng ta vẫn phải gấp rút chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu". Vì thế, khi đó, công tác chuẩn bị chiến đấu tại các đơn vị của Trung đoàn Thủ đô diễn ra rất khẩn trương. Mỗi buổi tối, ông Hàm đều tổ chức cho Trung đội 2 luyện tập đội ngũ, tăng cường huấn luyện cách sử dụng các loại vũ khí có trong biên chế. "Súng khi đó rất ít, chủ yếu được bà con mua, tặng chúng tôi. Còn lại chủ yếu là vũ khí thô sơ. Tuy nhiên khi ấy, mọi người đều nhận thức rằng: Vũ khí không phải là tất cả, điều quan trọng hơn là lòng yêu nước và ý chí quyết tâm cao, chúng ta sẽ chiến thắng" - ông Hàm xúc động nhớ lại.

Tối nào cũng vậy, phố Hàng Thiếc luôn sôi động bởi không khí luyện tập quân sự của các chiến sĩ quyết tử. Bà con dân phố mang đèn ra treo trước cửa, xem và động viên các chiến sĩ luyện tập.

Khi đứng trước tủ kính trưng bày quả bom ba càng, ánh mắt ông Hàm vụt sáng. Ông bồi hồi kể: "Bom ba càng đầu hình nón, đâm vào xe tăng là xe tăng sẽ bị phá hủy, nhưng nó có phản lực phía sau nên người ôm bom ba càng phải hy sinh. Trung đội 2 có 36 cán bộ, chiến sĩ, ai cũng muốn được chọn vào đội hình luyện tập, sử dụng loại vũ khí đặc biệt này, dẫu biết sẽ hy sinh khi ôm bom ba càng xung trận. Tuy nhiên, qua kiểm tra thể lực và sự nhanh nhẹn, khéo léo, chỉ có 10 chiến sĩ trong trung đội được lựa chọn để huấn luyện sử dụng bom ba càng"…

"Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh"

Để chuẩn bị cho chiến đấu, trên những con phố được xác định địch sẽ hành quân, lực lượng của ta đều dựng các công sự, chiến lũy, chướng ngại vật. Hai bên đường phố nhiều thân cây được khoan để đặt mìn, sẵn sàng cho nổ khi địch tới. Các cột điện cũng được sử dụng để bố trí các ụ súng. Những căn nhà trong phố được đục tường, nối thông các nhà với nhau. Với đặc thù kiến trúc đa dạng, các bức tường bị đục ra chính là những ma trận đối với quân Pháp. Chiều 19-12-1946, ông Hàm nhận được thông tin đêm đó sẽ diễn ra những trận đánh ác liệt, mở đầu cho toàn quốc kháng chiến. Lực lượng Trung đội 2 đã được phân tán nhỏ lẻ, sẵn sàng chặn chân địch tại các phố Hàng Thiếc, Thuốc Bắc, Lãn Ông, Hàng Ngang, Hàng Đào. Những đội quân "quyết tử" đã sẵn sàng tất cả cho "Tổ quốc quyết sinh". Cả Thủ đô sục sôi căm thù địch và hừng hực ý chí quyết chiến quyết thắng.

"Đúng 20 giờ, ngày 19-12-1946, đèn điện Hà Nội phụt tắt. Đại bác từ pháo đài Láng gầm lên, bắn những phát đầu tiên vào quân địch tập trung trong thành cổ. Thủ đô Hà Nội rền vang tiếng súng, mở đầu cho cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược. Đêm ấy, Hà Nội cháy, khói lửa ngập trời. Ánh sáng, tiếng nổ của đạn, pháo từ khắp mọi nơi vang rền. Mỗi góc phố, mỗi ngôi nhà đều trở thành chiến địa khốc liệt" - Đại tá Nguyễn Trọng Hàm xúc động kể, đôi mắt ông như sáng lên một cách đặc biệt

"Những người con của Thủ đô, từ anh công nhân, sinh viên y khoa, chàng kiến trúc sư, những thiếu nữ trường Trưng Vương, Đồng Khánh, đến những cậu bé đánh giày, anh phu, chị tiểu thương, thanh niên nam nữ của 36 phố phường… đều hiên ngang bước vào cuộc chiến. Sau các ụ súng, dưới giao thông hào, các chiến sĩ đọc cho nhau nghe "Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh để vững thêm ý chí chiến đấu giết giặc, cứu nước. Bất kỳ chỗ nào, giặc Pháp cũng vấp phải sự kháng cự quyết liệt của quân và dân Hà Nội…" - Đại tá Nguyễn Trọng Hàm nhớ lại.

Các tổ tự vệ, dưới sự chỉ huy của Đại đội trưởng Nguyễn Trọng Hàm, đã đánh tập kích, tiêu diệt được một số ổ đề kháng bí mật của Việt gian; cùng nhân dân nổ mìn, hạ cây, cột điện, khuân đồ đạc trong nhà ra lấp mặt đường, tạo chướng ngại vật cản xe cơ giới địch. Pháp huy động xe tăng, hỏa lực chống trả quân ta quyết liệt. Nhiều chiến sĩ quyết tử ôm bom ba càng đâm thẳng vào xe tăng địch, anh dũng hy sinh.

Địa hình phức tạp, đường phố hẹp, nhiều ngõ ngách, nhà cửa nông sâu, cao thấp khác nhau thành khối kiến trúc liên kết thuận lợi cho chiến thuật phòng ngự và đánh du kích trong thành phố, nên địa bàn này trở thành "chốt thép" thu hút các lực lượng và giữ chân địch. Ta và địch giằng co với nhau từng căn nhà, góc phố… Sau 10 ngày chiến đấu, ta đã giành quyền kiểm soát nhiều tuyến phố. Trận địa bám trụ của Liên khu I được tiếp tục củng cố và ngày càng vững chắc, gây cho địch nhiều khó khăn.

Để thống nhất lãnh đạo và chỉ huy các lực lượng vũ trang, ngày 6-1-1947, Trung đoàn Liên khu I được thành lập. Đây là Trung đoàn đầu tiên ở Thủ đô được thành lập trong lửa đạn của cuộc kháng chiến.

Với tinh thần ngoan cường, dũng cảm của quân và dân Thủ đô, suốt 60 ngày đêm khói lửa, quân và dân ta không chỉ giam chân địch trong nội thành, ngăn chặn không cho chúng đánh ra các vùng lân cận, mà còn phá vòng vây của địch, bảo vệ Trung ương Đảng, Chính phủ và nhân dân Thủ đô sơ tán về vùng tự do, căn cứ địa cách mạng an toàn.

Đại tá Nguyễn Trọng Hàm còn cho biết: "Hơn 1 tháng, trải qua biết bao gian nan, thiếu thốn, nguy hiểm để chiến đấu giam chân địch giữa lòng Thủ đô, chúng tôi vô cùng xúc động, vui mừng phấn khởi khi nhận được "Thư Bác Hồ gửi các chiến sĩ yêu quý của Trung đoàn Thủ đô", ngày 27-1-1947". Trong thư, Bác Hồ viết: "Các em là đội cảm tử. Các em quyết tử để Tổ quốc quyết sinh". Đại tá Hàm xúc động nói: “Còn gì sung sướng hơn khi vị lãnh tụ cao nhất của đất nước gọi các chiến sĩ quyết tử của Liên khu I anh hùng bằng cái tên chung - "các em"- trìu mến, ấm áp như thế". Và thực tế là từ những thời khắc đầu tiên cho đến suốt 2 tháng sau đó, các chiến sĩ của Trung đoàn Thủ đô nói chung, Trung đội 2 của ông Nguyễn Trọng Hàm nói riêng, đã anh dũng chiến đấu, lập nên những chiến công vang dội giữa lòng Thủ đô.

Ở vào độ tuổi 95, Đại tá Nguyễn Trọng Hàm vẫn còn tích cực tham gia hoạt động, không chỉ với Ban liên lạc truyền thống Thủ đô Anh hùng, mà còn nhiều tổ chức đoàn thể khác. Với phẩm chất tốt đẹp của người lính Bộ đội Cụ Hồ, ông luôn tâm niệm phải cống hiến đến hơi thở cuối cùng cho đất nước với mong muốn giúp lớp trẻ hôm nay hiểu hơn về một thế hệ cha anh năm xưa "quyết tử để Tổ quốc quyết sinh", từ đó sống có ích hơn cho xã hội…Cuộc sống đã có nhiều thay đổi, nhưng có một điều vẫn vẹn nguyên trong ông suốt những năm tháng qua, đó là niềm tự hào của một người Hà Nội đã luôn sống, chiến đấu và làm việc hết sức mình vì Hà Nội mến yêu.

Thanh Thuận

Bình luận

ZALO