Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Thứ tư, 14/04/2021 02:36 GMT+7

Trưởng thành từ "mái trường" Biên phòng

Biên phòng - Từ những lớp học tình thương của các thầy giáo mang quân hàm xanh, có một thế hệ trẻ em con nhà nghèo nơi các làng ven biển của tỉnh Phú Yên lớn lên và thành công trong cuộc sống. Với họ, những năm tuổi thơ chật vật đi tìm con chữ bên người thầy áo lính không chỉ là ký ức đẹp, mà còn là hành trang giúp họ vững tin trên mỗi chặng đường đời.

Bài 1: Vững bước trong yêu thương

"Mỗi người sống trong cuộc đời có một hoàn cảnh, một công việc khác nhau, nhưng tất cả những học trò của thầy sau này nhất định phải sống tốt và làm việc có ích cho xã hội". Đặng Thị Bích, người phụ nữ 29 tuổi ở làng chài Đông Tác không giấu được niềm xúc động khi nhắc lại lời tâm sự đầy yêu thương mà thầy giáo Mai Văn Dũng thường nhắn nhủ với chị và những người bạn bè cùng học lớp tình thương từ 20 năm trước.

5747ab6115be4d862200024b
Trong căn nhà của Đặng Thị Bích, thầy và trò lớp học tình thương 20 năm trước ở làng biển Đông Tác đang hội ý để tổ chức ngày gặp mặt kỷ niệm. Ảnh: Phương Oanh

Vượt khó vào đời

Tôi về làng biển Đông Tác khi biết những học trò từng học lớp tình thương của Đồn BP Tuy Hòa tổ chức đang hẹn nhau về họp mặt để chuẩn bị kỷ niệm 20 năm ngày chia tay lớp học.

Đặng Thị Bích cho hay, kết thúc kỳ học cuối (lớp 5) ở lớp tình thương, chị và những người bạn được các thầy giáo Biên phòng chuyển vào học ở trường Trung học cơ sở. Chật vật với từng con chữ khi những bữa cơm không đủ no, nhiều bạn đã sớm nghỉ học, lao vào cuộc mưu sinh, kiếm thêm cái ăn và phụ giúp cha mẹ. Có vài người theo đuổi việc học lên đến lớp 7, lớp 8 và hiếm hoi cũng có bạn học đến hết Trung học phổ thông. Riêng Bích, học xong chương trình lớp 6, chị đã nghỉ học vào TP Hồ Chí Minh làm công nhân. Mãi đến cách đây 5 năm, Bích mới trở về quê lập gia đình.

Căn nhà cấp 4 của vợ chồng Bích nằm trong một con hẻm nhỏ ở xóm chài Đông Tác gọn gàng, ngăn nắp. Ngay trước hiên nhà, Bích đã lập quán bán cà phê cóc buổi sáng để kiếm tiền đi chợ và dành trọn thời gian dạy dỗ con, chăm sóc gia đình để chồng yên tâm đi làm việc. Ngồi bên cạnh dạy cho cô con gái nhỏ 5 tuổi học bài, Bích kể trong niềm vui: "Cháu đã thông thạo bảng chữ cái, ham viết chữ, vẽ tranh và lúc nào cũng đem theo bên mình mấy quyển sách, đòi nghe mẹ đọc truyện, dạy đọc thơ".

Bích còn tự hào bộc bạch, niềm đam mê sách của con gái là được "nhiễm" từ thói quen thích đọc sách, báo của mẹ. "Chồng em cứ bảo, tuy em không có điều kiện học nhiều nhưng biết cách dạy con ham học là điều làm ảnh mừng" - Bích thẹn thùng nói.

Người phụ nữ trẻ tâm sự, dù cuộc sống hiện tại chưa sung túc nhưng nhìn lại những gì có được như hôm nay, chị thấy vui. "Những năm xa quê, xa người thân, lại gặp nhiều bất trắc trong công việc nhưng may mắn, em đã không buông thả mà luôn giữ mình, hướng về những điều tốt để sống" - Bích nói. Với Bích, "điểm tựa" cho nghị lực ấy chính là những người thầy giáo Biên phòng. “Hôm đến chào để chia tay các thầy, các chú ở đồn BP trước khi vào TP Hồ Chí Minh làm việc, thầy Dũng, thầy Định đã nắm chặt tay em mà căn dặn, phải biết vun đắp cho mình một cuộc sống lương thiện và hướng tới những điều tốt. Mỗi lần về thăm nhà, em cũng được các thầy động viên, khích lệ nên không muốn để phụ lòng" - Bích rơm rớm nước mắt nhắc lại chuyện cũ.

Nói về cuộc sống hiện tại, Bích cho biết, tài sản của hai vợ chồng sau ngày cưới không có gì ngoài đồng lương ít ỏi của chồng. Trong căn nhà thuê, Bích đã xoay xở, chắt bóp chi tiêu, vun vén tích góp để dành tiền mua đất rồi cất căn nhà này.

Người phụ nữ trẻ cũng khẳng định, ngày ấy, cuộc sống thiếu thốn, khó khăn muôn bề. Tuổi thơ của chị và các bạn cùng trang lứa cứ mịt mù trong nỗi lo cơm áo của cha mẹ. "Nếu không được các thầy giáo Biên phòng dạy dỗ, chỉ bảo từng tí một, có lẽ cuộc đời em và nhiều bạn bè đã không dễ gặp được điều may mắn như hôm nay" - Bích nói trong niềm biết ơn.

Nuôi dưỡng yêu thương

Từng là học trò ở lớp tình thương của làng biển Đông Tác, ở tuổi 28, Chế Văn Thời hiện là cán bộ Trung tâm Phát triển quỹ đất thuộc phòng Tài nguyên - Môi trường TP Tuy Hòa. Anh cán bộ viên chức Nhà nước xuất thân từ làng biển nghèo luôn khiến bạn bè, đồng nghiệp nể phục bởi sự sâu sắc trong suy nghĩ và chu đáo trước công việc. Sau ngày tốt nghiệp ngành Trắc địa, trường Cao đẳng Công nghiệp Tuy Hòa, để được tiếp nhận vào vị trí công việc như bây giờ, Thời đã có mặt trên khắp các vùng miền, tham gia nhiều công việc khác nhau, thu thập khá nhiều kinh nghiệm làm việc. Nhìn cung cách mẫn cán của Thời, chúng tôi khó hình dung đây là cậu trò “nổi tiếng” hay ngủ gật, trốn học của lớp học tình thương 20 năm trước do đồn BP tổ chức.

 "Tôi là một trong số ít những đứa trẻ đầu tiên có mặt tại lớp tình thương. Ngày thầy Dũng và các chú ở đồn BP đến nhà vận động cha mẹ cho tôi đi học, ba nói, học hành gì, lớn thêm vài tuổi nữa theo cha ra biển thả lưới, đánh cá kiếm cái ăn cho nhanh. Nói thì nói vậy, nhưng nể các chú BĐBP từng chữa bệnh cho mẹ, nên ba ậm ừ rồi gật đầu đồng ý" - Thời kể.

5 năm học ở lớp tình thương, Thời được 4 người thầy dạy chữ. Mỗi người một cung cách dạy, nhưng điều anh khó quên là sự ân cần, chăm chút mà các thầy giáo Biên phòng dành cho đám học trò nghèo. Thời kể: "Lớp học của chúng tôi là căn phòng bằng lá được dựng lên trên khoảng đất trống dưới vườn dừa, nằm sát bãi biển nên mùa đông, gió từ biển thổi vào lạnh cóng. Các thầy đã tận dụng nhiều mảnh ván ép cũ để che chắn, đóng kín các cửa sổ ngăn bớt gió. Mùa hè, cửa mở toang, gió biển lùa vào căn phòng mát rượi. Nhiều buổi trưa dang đầu ngoài bãi biển kéo lưới mệt lử nên đến giờ vào lớp, chúng tôi nằm dài trên bàn ngủ ngon lành. Hồi đó, mỗi buổi đi dạy, một tay thầy ôm tập sách bài giảng, tay kia cầm theo cái khăn mặt của lính và chậu nước. Hễ có đứa nào ngủ gật là thầy giục đứng dậy đi lấy khăn nhúng nước lau mặt mũi".

c7wt_10b
Tấm giấy khen được trao tặng những ngày học lớp tình thương vẫn được Chế Văn Thời lưu giữ. Ảnh: Phương Oanh

Những buổi học cuối tuần là niềm háo hức mong đợi của những đứa trẻ con nhà nghèo. Bởi, đến giờ sinh hoạt lớp, các thầy thường có những túi bánh, kẹo phân phát cho học trò. Rồi, mỗi mùa Tết Trung thu, thầy lên những vùng quê tìm xin về những cây tre to. Cả ngày Chủ nhật, thầy trò hì hục cưa, chẻ, vót tre, cột thành hình lồng đèn bánh ú và lồng đèn ngôi sao 5 cánh. Thầy giao cho mỗi đứa một chiếc sườn lồng đèn để tiếp tục tự mình dán giấy màu, trang trí. Qua bàn tay vụng về của những đứa trẻ con nhà nghèo, những chiếc lồng đèn thành hình với lớp giấy màu nhăn nhúm, loang lổ nhưng ngày trăng tròn, xóm biển lại chộn rộn niềm vui.

Ngày ấy, sách báo trong mắt những đứa trẻ nhà nghèo xóm biển là vật lạ lẫm. Để "dụ" học trò mê đọc sách, mỗi buổi học, các thầy lại tìm một câu chuyện thần thoại hoặc chuyện cổ tích hấp dẫn đọc cho cả lớp nghe. Đến hôm sau lại bảo học trò xung phong lên kể, bạn nào kể hay sẽ được thầy thưởng quà. Những năm tiếp sau, các thầy đặt cho lớp một số báo Thiếu niên tiền phong để chuyền cho nhau đọc và luôn khuyến khích học trò đến thư viện của đồn BP đọc sách...

 Người học trò 20 năm trước của xóm chài Đông Tác cũng cho biết, năm lên lớp 4, anh đã bắt đầu để ý đến điều hay, cái đẹp trong từng câu chuyện thầy kể. Từ một đứa ham chơi, cục cằn, thường bị thầy phạt vì tội đánh nhau, anh dần rời bỏ những tật xấu và đã biết hãnh diện khi được nhận những tấm Giấy khen cuối mỗi năm học. "Lên học cấp hai, tôi bắt đầu ấp ủ giấc mơ được làm công chức Nhà nước, ngày ngày được mang mặc áo quần nghiêm túc đến công sở, có cuộc sống chuẩn mực và làm được nhiều việc tốt để mọi người nể phục" - Chế Văn Thời chân thành thổ lộ.

Bài 2: Hành trang cho giấc mơ vượt nghèo

Phương Oanh

Bình luận

ZALO