Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Thứ hai, 02/08/2021 12:50 GMT+7

Trăn trở bài toán bảo tồn văn hóa truyền thống của người Si La

Biên phòng - Là một trong 5 dân tộc có số dân dưới 1.000 người, dân tộc Si La có số dân đông nhất (709 người), cư trú ở bản Nậm Sin, xã Chung Chải, huyện Mường Nhé, Điện Biên; bản Seo Hai và Sì Thâu Chải, xã Can Hồ, huyện Mường Tè, Lai Châu. Từ khi có dự án “Hỗ trợ phát triển dân tộc Si La” của Chính phủ, người Si La từng bước được tiếp cận với những tiến bộ khoa học-kĩ thuật mới, năng suất lao động nâng lên, từng bước cải thiện cuộc sống. Song, với rào cản tảo hôn, hôn nhân cận huyết và tâm lý tự ti, người Si La vẫn đang vật lộn với đói nghèo, suy thoái giống nòi và mai một bản sắc văn hóa truyền thống.

mwbs_21-1.jpg
 Trang phục truyền thống của phụ nữ Si La.
 
Dân số Si La càng ngày càng giảm

Đó là lời tâm sự đầy trăn trở của ông Hồ Biển Khơi, người dân tộc Si La, ở bản Seo Hai, Huồi Lèng, Mường Tè (nay là bản Seo Hai, xã Can Hồ, huyện Mường Tè, Lai Châu). Ông Khơi cho biết, tổ tiên người Si La có nguồn gốc từ bên Lào, di cư sang Việt Nam đã lâu đời, còn có tên gọi là người Cú Dè Xừ, Khả Pẻ, thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng Miến. Trước kia, người Si La cư trú ở bản Seo Hai. Đến năm 1923, một bộ phận người Si La mới di cư đến bản Nậm Sin, xã Chung Chải, huyện Mường Nhé, cách Seo Hai và Sì Thâu Chải về phía Tây Bắc khoảng 50km.

Do hoàn cảnh xã hội, lịch sử để lại, người Si La rất ít giao tiếp với xã hội nên thiếu kinh nghiệm tăng gia sản xuất, tri thức dân gian bị bó hẹp trong phạm vi dân tộc. Người Si La không kết hôn với người dân tộc khác vì quan niệm khi chết không có nhà để về; ốm đau không đến cơ sở y tế khám bệnh mà mời thầy mo, thầy cúng trừ tà ma... Chính vì vậy, dù dân số rất ít, nhưng hiện nay, hôn nhân của người Si La vẫn chủ yếu là hôn nhân trong cùng dân tộc, miễn là khác họ, dẫn đến tình trạng hôn nhân cận huyết rất đáng báo động.

Hiện, dân tộc Si La có 6 dòng họ là Hù, Pờ, Vàng, Giàng, Lỳ, Lý, trong đó, dòng họ Giàng đang bên bờ diệt vong do rất hiếm người sống được đến trên 45 tuổi (ở Nậm Sin, dòng họ này chỉ còn một gia đình). Cùng với sự suy giảm giống nòi (tầm vóc, thể lực nhỏ bé, yếu), lớp trẻ dân tộc Si La giờ không biết hát tiếng dân tộc, một số lễ hội truyền thống cũng không còn được tổ chức.

Nhắc đến ông Hồ Biển Khơi, những người sống cùng thời với ông hẳn không thể quên được cậu bé người Si La học trường Thiếu sinh quân khóa đầu tiên của quân đội đã được gặp Bác Hồ năm 1946 và được Bác đổi tên từ Hù Chà Khơi thành tên Hồ Biển Khơi do có thành tích xuất sắc trong công tác cách mạng với mong muốn người dân Si La sẽ có cuộc sống tốt hơn. Nhớ lời căn dặn của Bác cộng với niềm tự hào dân tộc, sau khi tốt nghiệp trường Thiếu sinh quân, chàng thanh niên Hồ Biển Khơi được điều động về công tác tại lực lượng Công an nhân dân vũ trang chuyên làm công tác trinh sát.

Cuộc sống như con tạo xoay vần, khi trưởng thành, ông Khơi đã bén duyên cùng cô gái Thái nên đã lập nghiệp trên quê hương mới. Con rể ông hiện cũng là lính Biên phòng, đang công tác tại Đồn BP Sìn Hồ (Lai Châu). Song, mỗi khi trở về quê cũ, lòng ông Khơi lại đau đáu nỗi niềm khi cuộc sống của người dân quê ông vẫn nghèo khó, nạn tảo hôn, hôn nhân cận huyết vẫn diễn ra. Ông thường hoài niệm về ngày xưa, thời cộng đồng người Si La sống ở bản Nậm Sin có tới 60-70 nóc nhà, nhà nào cũng rộng rãi chứ không nhỏ hẹp như bây giờ.

Bày tỏ tâm huyết "phải giữ bằng được" những nét đẹp văn hóa của dân tộc mình và từng bước xóa bỏ tình trạng hôn nhân cận huyết, ông Hồ Biển Khơi cho rằng, con người là yếu tố trung tâm và phải chăm lo phát triển con người. Khi đã bảo tồn phát triển được con người thì mới xem xét bảo tồn văn hóa truyền thống. Muốn vậy, Đảng, Nhà nước, các cấp chính quyền cần quan tâm đến việc học tập của con em người Si La, đảm bảo công việc cho những người Si La tốt nghiệp trung học phổ thông, cao đẳng và đại học để lấy đó làm gương con cháu, có như vậy mới bảo tồn được văn hóa truyền thống của người Si La. Bản thân người Si La cũng cần nỗ lực vươn lên xóa đói giảm nghèo; ông bà, cha mẹ phải nuôi dưỡng, chỉ bảo con cháu giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc mình.

Bắt đầu từ việc khơi gợi nét đẹp văn hóa truyền thống

Cũng như các dân tộc khác, người Si La cũng có một tài sản văn hóa truyền thống phong phú với nhiều nghi thức, lễ hội diễn ra ngay trong đời sống hằng ngày. Điểm nổi bật trong "di sản văn hóa", đó chính là quy định bất thành văn: Trưởng họ của người Si La thường là người già nhất, chứ không phân biệt theo thứ bậc. Mỗi năm hai lần, tại nhà trưởng họ, con cháu tập họp để tổ chức Tết năm mới và cúng cơm mới với các lễ vật rất đặc trưng. Cứ 7 năm, người Si La lại làm lễ cúng hồn lúa, đưa hồn lúa từ nương về bản, tới nhà rồi cất trên bồ thóc. Nghi lễ cúng tổ tiên của người Si La được thực hiện ở bếp thiêng.

Người Si La xưa không biết dệt vải, nhưng phụ nữ Si La lại rất cầu kỳ trong chuyện váy áo. Từ cổ áo, đến thân áo, người Si La đều chú ý xen kẽ các màu vải với những hoa văn khác nhau, phần thân áo đính hàng chục đồng xu trắng theo hình rải quạt, tạo cho chiếc áo mang một nét đẹp riêng. Điểm nổi bật trong trang phục của phụ nữ Si La là chiếc khăn đội đầu. Thiếu nữ Si La chưa chồng thì đội khăn màu trắng có 2 tua, gọi là "tê ta y sùa"; khi lấy chồng chưa có con thì đội khăn màu đen gọi là "dơ phừ" do mẹ chồng khâu, phần đầu khăn được khâu thành một chiếc túi quấn quanh búi tóc, tạo nên một cuộn tóc nằm ngang.

Nếu cuộn tóc này chưa đủ to thì phải độn thêm áo, cái mũ hoặc tóc của chồng. Khi người phụ nữ Si La đã có con thì việc quấn khăn càng trở nên quan trọng. Nếu sinh con gái, búi tóc trước trán và được quấn bằng chiếc khăn thẳng, không có túi để đựng tóc như khăn "dơ phừ"; nếu sinh con trai, người phụ nữ phải độn thêm một ít tóc rụng của mình vào búi tóc gọi là "ô phạ" và chỉ cần đếm số khăn "ô phạ" là biết được người ấy có bao nhiêu con...

Là người nhiều năm liền gắn bó với văn hóa các dân tộc trên địa bàn, nhất là văn hóa truyền thống của người Si La, bà Trần Minh Thư, Trưởng phòng Di sản, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Điện Biên cho biết: Kể từ khi có dự án "Hỗ trợ, phát triển dân tộc Si La”, người Si La ở Nậm Sin và Can Hồ đã có nhiều thay đổi, đã có công trình nước sinh hoạt, nhà mẫu giáo, nhà sinh hoạt cộng đồng, điện thắp sáng từ những máy phát điện mi ni, song cuộc sống của bà con còn nhiều khó khăn. Nguyên nhân là do dự án đầu tư hỗ trợ thiếu hiệu quả theo kiểu mạnh ai nấy làm, không có cán bộ chuyển giao kỹ thuật chăn nuôi, trồng trọt, vì vậy trâu bò, lợn vừa hỗ trợ đã lăn ra chết do bà con không biết cách chăm sóc, nuôi trồng.

Cuộc sống đã đói nghèo, nhưng đời sống văn hóa tinh thần của người Si La ở Nậm Sin cũng chẳng khá hơn do nguồn kinh phí ít ỏi nên mỗi năm họ chỉ được hưởng các hoạt động văn hóa như chiếu phim, tuyên truyền lưu động, biểu diễn nghệ thuật. Đã vậy, trẻ em trong độ tuổi đi học tại bản có hai lớp thì cả hai lớp là lớp ghép, học đến lớp 5 thì phải đến trung tâm xã để học, đường xa đi lại khó khăn nên các em cứ bỏ học dần.

Trái với những con số nghèo nàn về giáo dục, thì người tảo hôn, hôn nhân cận huyết trong đồng bào Si La lại rất nhiều. Ở Nậm Sin có gần 50% số hôn nhân cùng dân tộc, dù hiện tại, người Si La đã kết hôn với người Hà Nhì, nhưng con số đó vô cùng hiếm hoi. Cũng vì hôn nhân cận huyết mà thể trạng người Si La yếu, bệnh tật nhiều, tuổi thọ trung bình không quá 45 tuổi. Đây chính là những rào cản dẫn đến nhiều năm qua, dù được Đảng, Nhà nước quan tâm, nhưng dân số dân tộc Si La vẫn không tăng, trình độ dân trí thấp.

Cũng theo bà Trần Minh Thư, so với các dân tộc khác, điểm nổi trội của người Si La chính là biết nhiều tiếng dân tộc khác, một sự chuyển hóa linh hoạt từ ngại giao tiếp sang yếu tố cởi mở, bứt phá của dân tộc Si La. Đây chính là điểm thuận lợi để các cơ quan chức năng chung tay cùng đội ngũ già làng, trưởng bản, người có uy tín và ngành văn hóa tuyên truyền, vận động bà con không mặc cảm về tâm lý dân tộc, vươn ra mở rộng, nâng cao trình độ hiểu biết để từng bước xóa bỏ "nạn" tảo hôn, hôn nhân cận huyết; đồng thời cần quan tâm đến việc học tập và bố trí công ăn việc làm cho con em người Si La theo trình độ, chuyên môn. 

Hương Mai

Bình luận

ZALO