Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Thứ năm, 26/11/2020 11:10 GMT+7

Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ - nhà lãnh đạo xuất sắc, mẫu mực của Đảng

Biên phòng - Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ là nhà lý luận xuất sắc, nhà chính trị tài năng, một tấm gương tiêu biểu về tinh thần tự học tập rèn luyện và trưởng thành qua đấu tranh cách mạng. Đồng chí đã có những cống hiến to lớn cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân Việt Nam.

Trưởng thành trong bão táp cách mạng

Đồng chí Nguyễn Văn Cừ sinh ngày 9-7-1912 trong một gia đình trí thức nghèo thuộc dòng họ Nguyễn Trãi, tại làng Phù Khê, tổng Nghĩa Lập, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (nay là thôn Phù Khê, xã Phù Khê, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh). 

5-tong-bi-thu-cua-dang-qua-cac-thoi-ky
Cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ. Ảnh: Tư liệu

Kế thừa truyền thống yêu nước, hiếu học của dòng họ, lớn lên trên mảnh đất "địa linh nhân kiệt", mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc của xứ Kinh Bắc, ngay từ nhỏ Nguyễn Văn Cừ đã thể hiện tư chất thông minh, bản lĩnh kiên cường bất khuất, lòng yêu nước thiết tha, sẵn sàng hy sinh vì nghĩa lớn.

Mùa thu năm 1927, Nguyễn Văn Cừ thi vào trường Bưởi ở Hà Nội (tức trường Bảo hộ Lycée du Protectorat, nay là trường Phổ thông trung học Chu Văn An, Hà Nội), đỗ loại giỏi, được cấp học bổng toàn phần và được ở ký túc xá. Những năm tháng dưới mái trường này, Nguyễn Văn Cừ được giác ngộ cách mạng và được kết nạp vào Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, trở thành một hội viên tích cực. Từ đây, tư tưởng yêu nước và cứu nước của Nguyễn Văn Cừ đã bắt đầu nhen nhóm. 

Học ở trường Bưởi không lâu, Nguyễn Văn Cừ bị mật thám bắt giam 5 ngày và bị nhà trường đuổi học do hoạt động chống đối, đả kích giám thị nhà trường. Sau đó, Nguyễn Văn Cừ trở về quê dạy học tư ở làng Hà Lỗ. Trong thời gian này, Nguyễn Văn Cừ được đồng chí Ngô Gia Tự khi đó là Bí thư Tỉnh hội Bắc Ninh của Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội giao cho nhiệm vụ đi xây dựng cơ sở Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội ở vùng ven sông Cầu. 

Cuộc đời Nguyễn Văn Cừ tuy ngắn ngủi, bị địch sát hại khi mới 29 tuổi, nhưng đồng chí đã để lại một sự nghiệp cách mạng chói sáng - một Tổng Bí thư trẻ tuổi, chí lớn, tài cao, tận trung với nước, tận hiếu với dân. 

Cuối năm 1928, Nguyễn Văn Cừ bí mật rời Bắc Ninh ra vùng mỏ Đông Bắc hoạt động. Đây là lần đầu tiên Nguyễn Văn Cừ sống "ba cùng" với giai cấp công nhân (cùng ăn, cùng ở và cùng làm) và trở thành người lãnh đạo cao nhất trong phong trào cách mạng vùng mỏ Đông Bắc của Tổ quốc khi Nguyễn Văn Cừ mới 17 tuổi. 

Tháng 6-1929, khi Đông Dương Cộng sản Đảng ra đời, Nguyễn Văn Cừ trở thành một trong những đảng viên cộng sản đầu tiên của Đảng. Nguyễn Văn Cừ ra sức phấn đấu xây dựng tổ chức cơ sở Đảng, và ngay trong tháng 6-1929, Nguyễn Văn Cừ đã cùng các đồng chí cùng chí hướng thành lập được chi bộ Đảng ở Uông Bí - Vàng Danh (Quảng Ninh), bao gồm một số thợ lò, thợ máy và hội viên của Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội.

Ngày 3-2-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, Nguyễn Văn Cừ trở thành đảng viên của Đảng, giữ chức Bí thư Đặc khu ủy Hòn Gai - Uông Bí. Cuối tháng 2-1930, đồng chí thành lập chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam ở mỏ Mạo Khê - chi bộ đầu tiên của Đảng ta ở vùng mỏ Quảng Ninh. Sau đó, dưới sự chỉ đạo của đồng chí, các chi bộ Đảng ở Uông Bí, Vàng Danh, Hòn Gai, Cẩm Phả, Cửa Ông lần lượt ra đời.

Trong lúc phong trào cách mạng ở vùng mỏ Đông Bắc đang dâng cao thì ngày 15-2-1931, trên đường từ Cẩm Phả về Hòn Gai, Nguyễn Văn Cừ bị địch bắt và chuyển từ Hòn Gai về Hà Nội, giam ở Hỏa Lò. Tại đây, Nguyễn Văn Cừ đã tích cực học tập lý luận, chính trị một cách kiên trì, tự giác. Trong thời gian này, do không thể khai thác được gì ở Nguyễn Văn Cừ nên thực dân Pháp buộc phải mang đồng chí ra tòa xét xử.

Ngày 13-5-1931, Hội đồng đề hình Bắc Kỳ đã kết án Nguyễn Văn Cừ 20 năm biệt xứ và đày ra Côn Đảo. Tại đây, Nguyễn Văn Cừ gặp các đồng chí: Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Hạ Bá Cang và nhiều đồng chí khác. Nguyễn Văn Cừ tham gia chi bộ Đảng ở Côn Đảo và cùng với các đồng chí của mình tham gia vào nhiều cuộc đấu tranh chống chế độ hà khắc của nhà tù và đòi cải thiện đời sống; tham gia vào việc dịch một số tác phẩm kinh điển ra tiếng Việt và chép vào những tập giấy thuốc lá, để phổ biến rộng rãi cho anh em khác. 

Năm 1936, ở Việt Nam và Pháp nổi lên phong trào đấu tranh đòi nhà cầm quyền Pháp thả các tù chính trị ở Đông Dương. Cuộc đấu tranh đã mang lại kết quả, ngày 29-9-1936, nhà cầm quyền Pháp ở Đông Dương buộc phải thả tự do cho một số tù chính trị, trong đó có Nguyễn Văn Cừ.

Tổng Bí thư của Đảng - nhà lãnh đạo xuất sắc

nguyen-van-cu
Khu lưu niệm cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Cừ tại thôn Phù Khê Thượng, xã Phù Khê, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Ảnh: CTV

Đầu năm 1938, Nguyễn Văn Cừ bí mật rời Hà Nội vào Sài Gòn, để dự Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được triệu tập tại Hóc Môn, Gia Định, từ ngày 29 và 30-3-1938. Hội nghị đã xem xét tình hình hoạt động của Đảng, các tổ chức quần chúng từ Hội nghị tháng 9-1937 đến nay, và định ra đường lối cho phù hợp với tình hình mới. 

Ngày 30-3-1938, Hội nghị đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương Đảng và cử Ban Thường vụ Trung ương. Đồng chí Nguyễn Văn Cừ được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, là Tổng Bí thư trẻ nhất trong lịch sử Đảng ta. Từ đây, với cương vị lãnh đạo cao nhất của Đảng, đồng chí Nguyễn Văn Cừ trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam.

Với cương vị là Tổng Bí thư, nhận thấy tình hình quốc tế đang có những chuyển biến bất lợi cho cách mạng Việt Nam và Đông Dương, đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã sớm đặt vấn đề chuyển hướng chiến lược của Đảng; chỉ đạo cho phát hành cuốn "Công tác bí mật của Đảng" kịp thời gửi tới Đảng bộ các cấp; trực tiếp triệu tập và chủ trì Hội nghị mở rộng Xứ ủy Bắc kỳ... 

Đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng, cho lý tưởng cao đẹp của Đảng. Cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí là một mẫu mực về phẩm chất cao quý của người cộng sản. Đồng chí đã biến nhà tù đế quốc thành trường lớp lý luận cách mạng, tự trang bị cho mình những hiểu biết sâu rộng về khoa học chính trị, trở thành Tổng bí thư – cán bộ lãnh đạo cao nhất của Đảng.

Đặc biệt, chỉ hai tháng sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, đồng chí đã triệu tập Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 6, trong đó xác định: Đảng sẽ tiến hành thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương thay cho Mặt trận dân chủ; phương pháp cách mạng cũng chuyển từ đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ sang đấu tranh trực tiếp đánh đổ chính quyền của đế quốc và tay sai; từ hoạt động hợp pháp và nửa hợp pháp sang hoạt động bí mật và không hợp pháp.

Nhờ có sự chỉ đạo kịp thời của Đảng, phong trào cách mạng Việt Nam tiếp tục phát triển mạnh mẽ theo chiều hướng mới, lực lượng cách mạng cũng tránh được tổn thất lớn khi kẻ địch trở mặt đàn áp, góp phần đưa đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám lịch sử. Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ còn là người đi đầu trong việc đề cao tinh thần thẳng thắn đấu tranh phê bình và tự phê bình nhằm nâng cao sức mạnh của Đảng, thể hiện thông qua tác phẩm "Tự chỉ trích" được viết vào tháng 7-1939. Bằng thực tiễn hoạt động phong phú của mình, đồng chí đã khái quát được những vấn đề tư tưởng lý luận hết sức sâu sắc mang tính thời đại cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị thời sự. 

Đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã viết: “Người cộng sản có bổn phận nói sự thật với quần chúng, dẫn đường cho quần chúng chớ không phải theo đuôi họ hay phỉnh họ”. Và dầu cho có sai lầm, có thất bại thì “phải có can đảm mở to mắt ra nhìn sự thật”. “Chúng ta không bao giờ có thể đổ hết những nguyên nhân thất bại cho việc quân thù đàn áp và cử tri chưa giác ngộ. Chúng ta phải biết nhìn nhận những khuyết điểm về chủ quan mà chính ta gây ra, chính ta phải chịu hoàn toàn trách nhiệm” - đồng chí Nguyễn Văn Cừ nhấn mạnh.

Tác phẩm "Tự chỉ trích" đã thể hiện sự minh triết trong tư duy chính trị của một nhà lãnh đạo giàu kinh nghiệm, tài năng xuất sắc, đồng thời thể hiện chất trí tuệ sáng ngời của Đảng ta trong việc làm giàu thêm kho tàng lý luận học thuyết Mác - Lênin…

Ngày 18-1-1940, trên đường từ nhà chị Hai Sóc ở làng Bà Điểm (nơi đồng chí Nguyễn Văn Cừ ở lúc đó) đến cơ quan Đảng ở đường Nguyễn Tấn Nghiêm (nay thuộc TP Hồ Chí Minh) để bàn công tác với các đồng chí Lê Duẩn, Nguyễn Văn Hiếu (tức Giáo Hoan), do bị lộ, đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã bị địch bắt cùng với hai đồng chí của mình. Tòa án binh Sài Gòn lại buộc tội đồng chí Nguyễn Văn Cừ "có trách nhiệm tinh thần về cuộc khởi nghĩa" và kết án tử hình. 

Sáng sớm ngày 28-8-1941, đồng chí Nguyễn Văn Cừ hiên ngang bước ra pháp trường. Những khẩu hiệu cách mạng mà Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ và các đồng chí của mình hô vang trước lúc bị giặc Pháp xử bắn vẫn còn vang vọng mãi đến hôm nay...

Thùy Chi (tổng hợp)

Bình luận

Liên kết hữu ích
ZALO