Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Thứ sáu, 24/09/2021 12:47 GMT+7

Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương - Bản sắc cội nguồn dân tộc

Biên phòng - Trong những ngày này, từ muôn nẻo đường xuân, du khách náo nức tìm về đất Tổ Hùng Vương - nơi cội nguồn của dân tộc Việt Nam để tham dự lễ hội. Giỗ Tổ Hùng Vương - Lễ hội Đền Hùng năm 2016 có nhiều hoạt động mới như: Triển lãm tư liệu ảnh chủ đề "Nghi lễ tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương - Bản sắc cội nguồn dân tộc"; trưng bày tư liệu, hiện vật về văn hóa phi vật thể Hát Xoan và Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương; triển lãm tranh, ảnh của các họa sĩ, nghệ sĩ nhiếp ảnh Phú Thọ kết hợp giới thiệu các tác phẩm thơ, nhạc hay về Phú Thọ; Lễ hội đường phố...

Theo truyền thuyết, Hùng Vương là con của cha Lạc Long Quân - giống Rồng và mẹ Âu Cơ - giống Tiên, đã có công dựng nên Nhà nước Văn Lang cổ đại, thuộc vùng đất Phú Thọ ngày nay. Đối với cộng đồng các làng quê lân cận, Hùng Vương còn là thần tổ gắn với nghề nông, dạy dân cày ruộng, cấy lúa, ban linh khí cho đất đai, nhà cửa, cây trồng, vật nuôi sinh sôi phát triển, mùa màng bội thu.

Với niềm tin thành kính đó, từ hàng nghìn năm qua, hết thế hệ này qua thế hệ khác, người Việt ở vùng đất Tổ Phú Thọ, nơi có Đền Hùng linh thiêng và nhân dân trên khắp mọi miền của đất nước, cùng đông đảo người Việt Nam ở nước ngoài, đã tiếp tục duy trì, sáng tạo, vun đắp và lưu truyền Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương để thể hiện sự biết ơn với vị thủy tổ, mong Ngài phù hộ cho quốc thái dân an, vật thịnh, mưa thuận, gió hòa, mùa màng bội thu.

Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương đã được đi vào lịch sử dân tộc suốt hàng ngàn năm. Còn nhớ, vào năm 40, trước khi dấy nghĩa binh để đánh đuổi quân xâm lược nhà Hán nhằm giành lại độc lập cho dân tộc, Hai Bà Trưng đã đến đây tế các Vua Hùng và có lời thề được truyền tụng đến ngày nay: "Một xin rửa sạch nước thù/Hai xin nối lại nghiệp xưa họ Hùng".

 Bản ngọc phả viết thời Trần, năm 1470, đời vua Lê Thánh Tông (đời vua Lê Kính Tông năm 1601 sao chép đóng dấu kiềm) để tại Đền Hùng, từng ghi: "... Từ nhà Triệu, nhà Đinh, nhà Lê, nhà Lý, nhà Trần đến triều đại ta bây giờ là Hồng Đức Hậu Lê vẫn cùng hương khói trong ngôi đền ở làng Trung Nghĩa...".

Thời kỳ Tây Sơn, vua Quang Trung đã cho treo ở phía trên ngai vàng của nhà vua tại kinh thành Huế bài thơ về Đền Hùng: "Văn hiến nước nghìn năm/Vạn dặm chung một thế/Từ Hồng Bàng mở nước/Nghiêu thuấn một trời Nam". Và cho rước tinh linh (bài vị) của các Vua Hùng về thờ ở Miếu Lịch Đại Đế Vương (Huế). Triều đình chuẩn y cho phép vào bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục mở đầu từ thời đại Hùng Vương. Hằng năm, triều đình liên tục cử các quan đại thần và cấp tiền tu bổ, xây dựng đền thờ và Lăng mộ Hùng Vương ở Đền Hùng. Quy định xuân, thu nhị kỳ hằng năm mở hội làm tế.

Năm 1917, triều đình nhà Nguyễn giao cho Bộ Lễ chính thức chọn, định lệ ngày Quốc lễ - Giỗ Tổ Hùng Vương: Ngày mùng Mười tháng Ba âm lịch hàng năm. Từ đó đến trước ngày Cách mạng tháng Tám năm 1945, Giỗ Tổ năm chẵn do triều đình tổ chức; năm lẻ do chính quyền địa phương tổ chức, triều đình gửi 3 đấu gạo nếp thơm và 5 quan tiền về làm lễ vật dâng cúng.

Không phải ngẫu nhiên mà ông cha ta đã chọn ngày mùng Mười tháng Ba âm lịch để dâng hương lên bàn thờ Tổ. Bởi, theo Dịch học, số 3 trong tháng Ba Giỗ Tổ là số của Địa chi; số 10 trong ngày mùng Mười là số của Thiên can. Tháng Ba âm lịch là tháng Thìn (theo lịch nhà Hạ), Thìn là con rồng, âm Hán Việt là Long, Long là đồng âm của Lang. Chính vì điều này nên con Rồng được dùng tượng trưng cho Vua. Theo đó, số 10 là can Kỷ, được giải thích rằng, hết một vòng trở về khởi đầu, nên ngày Kỷ cũng là kỵ, mà ngày kỵ tức ngày giỗ. Tóm lại, theo Dịch học, số 10 và số 3 căn cứ trên 2 hệ Can - Chi được giải mã là "Kỵ Long", ý tứ rất rõ ràng, nghĩa là ngày giỗ Vua.

Có thể nói rằng, lịch sử như một dòng chảy liên tục. Mùa xuân năm 1941, khi từ nước ngoài trở về Tổ quốc, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã viết những vần thơ thể hiện tinh thần yêu nước, khẳng định truyền thống lịch sử của dân tộc trong bài Lịch sử nước ta: "Dân ta phải biết sử ta /Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam. /Kể năm hơn bốn nghìn năm /Tổ tiên rực rỡ, anh em thuận hòa/Hồng Bàng là Tổ nước ta/Nước ta lúc ấy gọi là Văn Lang". Đền Hùng lúc này đã trở thành biểu tượng  thiêng liêng có giá trị văn hóa - tinh thần lớn lao, thể hiện sức mạnh, niềm tự hào của khối đại đoàn kết toàn dân và truyền thống lịch sử lâu đời của dân tộc ta.

 Năm 1943, Mặt trận Việt Minh đã treo cờ Đảng, cờ Tổ quốc trên gác chuông trước cửa chùa Thiền Quang để tuyên truyền cách mạng, kêu gọi toàn dân đoàn kết đánh đổ Nhật - Pháp để cứu nước, trước đông đảo quần chúng về dự lễ hội. Sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, trong dịp Lễ hội Đền Hùng năm 1946, quyền Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, cụ Huỳnh Thúc Kháng được Chủ tịch Hồ Chí Minh ủy quyền thay mặt Chính phủ về dự Lễ hội Đền Hùng, khi Lễ Tổ đã dâng một thanh gươm và một tấm  bản đồ Việt Nam cẩn cáo với các Vua Hùng (Tư liệu của nhà sử học Dương Trung Quốc công bố). Năm 1954, đoàn quân Nam tiến theo tiếng gọi thiêng liêng của Đảng để giải phóng miền Nam, tiến tới thống nhất đất nước đã về tuyên thệ tại Đền Hùng. Ngày 19-9-1954, trước khi về tiếp quản Thủ đô Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gặp gỡ và căn dặn các cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn quân Tiên phong tại Đền Hùng với câu nói bất hủ:

"... Các Vua Hùng đã có công dựng nước

Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước...".

  Đền Hùng vẫn là nơi của bốn phương tụ hội, nơi con cháu phụng thờ công đức Tổ tiên. Hằng năm, cứ đến ngày mùng Mười tháng Ba âm lịch, mỗi người Việt Nam đều xúc động hướng về đất Tổ, hướng về cội nguồn thấm đượm hồn thiêng sông núi, nghe thấy tiếng vọng ngàn xưa, như thấy tổ tiên Lạc Hồng vẫn đang hiển hiện, đúng như câu đối ở Đền Hùng:

Lăng tẩm tự năm nao, núi Tản, sông Đà, non nước vẫn quay về đất Tổ.

Văn minh đương buổi mới, con Hồng cháu Lạc, giống nòi còn biết nhớ Mồ ông.

Với những giá trị văn hóa truyền thống và ý nghĩa lịch sử nổi bật, tháng 12-2012, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) chính thức công nhận Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Quyết định của UNESCO nêu rõ: "Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương" thể hiện lòng tôn kính đối với các bậc Tổ tiên và từ đó nâng lên lòng tự hào dân tộc và gắn kết cộng đồng".  Đến nay, tỉnh Phú Thọ đã có nhiều nỗ lực trong việc bảo tồn và phát huy giá trị của di sản. Tín ngưỡng thờ cúng các Vua Hùng, thực sự có sức sống lâu bền và lan tỏa sâu rộng trong cộng đồng, xứng đáng là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, càng góp phần củng cố thêm niềm tin, niềm tự hào và đạo lý "Uống nước nhớ nguồn" của dân tộc Việt Nam.

Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương đã, đang và sẽ mãi mãi là điểm tựa cho khối đại đoàn kết dân tộc, vun bồi ý chí, năng lực nội sinh của con người Việt Nam. Hơn lúc nào hết, Việt Nam cần phải tiếp tục bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa quý báu, những giá trị có tính toàn cầu nổi bật của Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương trong đời sống đương đại, để tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước, giữ vững chủ quyền và độc lập của quốc gia, dân tộc.

Theo thống kê của Viện Nghiên cứu Hán Nôm, vào thời nhà Lê (từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII), đã có tới 1.026 đình, đền tại 944 làng xã trong toàn quốc thờ Hùng Vương và các nhân thần thời đại này. Và tính đến nay, có 1.417 di tích thờ Vua Hùng và các nhân vật liên quan đến thời đại Hùng Vương ở Việt Nam. Trong số này, ngoài 326 di tích trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, còn có không ít công trình tại các tỉnh, thành phố khác. Ngoài ra, rất nhiều cộng đồng người Việt ở nước ngoài cũng tự nguyện xây dựng các công trình tưởng niệm Hùng Vương, nhằm đáp ứng nhu cầu hướng về nguồn cội của đồng bào ta ở xa Tổ quốc.

Nguyễn Văn Thanh    

Bình luận

ZALO