Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Thứ ba, 24/05/2022 04:53 GMT+7

Thương nhớ Kơ nia

Biên phòng - Lừng lững và cô độc, cao vút và rì rào giữa nắng gió trời xanh cao nguyên, Kơ nia đã là biểu tượng của vùng đất này cùng với khan, cồng chiêng, tượng gỗ, nhà mồ..., nhưng bây giờ họa hoằn lắm mới tìm thấy một cây ở tít tắp những làng xa.

Mùa Kơ nia rụng quả, các em nhỏ ở Tây Nguyên tranh thủ giúp gia đình kiếm thêm thu nhập từ hạt đặc sản của núi rừng nơi đây. Ảnh: Tiêu Dao

Một biểu tượng bất diệt

Có lẽ, ai cũng từng nghe đến một loài cây đặc trưng ở miền cao nguyên, ít nhất là qua lời bài hát “Bóng cây Kơ nia”, được phổ nhạc từ bài thơ cùng tên nổi tiếng của nhà thơ Ngọc Anh. Nhưng tượng hình, dáng cây, thế đứng như thế nào, chắc chẳng mấy người mường tượng ra. Cả người trẻ Jrai, Ê Đê, Xê Đăng, Ba Na... của vùng đất này cũng ít còn được thấy nữa.

Già Amí Toan, gần 70 tuổi, ở xã Ia Mơ Nông, huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai ngồi ghếch chân lên cầu thang nhà sàn, tay chỉ về phía gần nhà mồ của làng bảo, ở đây chỉ còn một cây Kơ nia đó, nó là cây Kơ nia con, mọc lên từ gốc cây Kơ nia mẹ đã chết mấy chục năm trước. Nói là cây Kơ nia con, nhưng nó cùng tuổi với già Amí Toan. Già Amí Toan bảo, trước đây, vùng này nhiều cây Kơ nia lắm, lớn chừng nào cũng có, có cây 2-3 người ôm không hết. Nhưng bây giờ thì hết rồi, chỉ còn vài cây quanh vùng mà thôi.

Trong trí nhớ của già Amí Toan vẫn nguyên câu chuyện kể rằng, ngày xưa, có đôi vợ chồng nghèo đã già mà chẳng có con. Người chồng đến bên sườn núi tế 7 ngày 7 đêm liền. Yàng (trời) thấy được lòng thành, thương tình giúp ông bà có một đứa con gái. Ngày làm lễ đặt tên, vợ chồng ông đặt là K’nia. Cha mẹ mất mà vẫn nợ tiền người ta nên K’nia bị bắt về làm người ở. Công việc quá khổ cực khiến cô kiệt sức, nằm lại giữa mảnh đất cằn cỗi đầy gió trên triền đồi. Rồi từ nấm mộ cô mọc lên một cây thẳng tắp vươn cao. Cành cây như những cánh tay gân guốc dang rộng giữa trời xanh.

Bao trận giông bão càn quét qua quật đổ các loài cây khác, riêng nó vẫn hiên ngang, sừng sững. Nhờ bóng mát che chở, những mùa rẫy sau, cánh đồng trở lại tươi tốt, thóc lúa bội thu, nhà chủ đưa đi phân phát cho người nghèo. Dân làng đặt tên cây là Kơ nia. Từ đó, khi phát rẫy, thấy cây Kơ nia, dân làng giữ nguyên vì họ tin đó là nơi trú ngụ của thần linh, linh hồn người đã khuất.

Từ truyền thuyết ấy, mà có lẽ chính vì sức sống bền bỉ, mãnh liệt, 4 mùa không thay lá, cây Kơ nia đã trở thành huyền thoại. Loài cây này thường mọc một mình giữa cánh rừng, giữa triền đồi cao, hay trong những thung lũng sâu. Họa hoằn lắm mới thấy cây Kơ nia mọc đôi, mọc ba, nhưng rất ít. Già Amí Toan bảo, Kơ nia trên những triền thảo nguyên nắng gió không mọc nhiều bao giờ, nó lừng lững vươn cao lên hẳn so với những cây rừng khác. Nắng lửa 6 tháng mùa khô đằng đẵng, cây vẫn một màu xanh tốt. Giông bão bao phen, bom đạn chiến tranh bao phen quật đổ bao loài cây, riêng Kơ nia vẫn hiên ngang, sừng sững. Có phải vì thế mà cây được ví như người Tây Nguyên, ngay thẳng, kiên trung, bất khuất.

Già Rơ Châm Chuck, ở làng Phung, xã Ia Mơ Nông nhớ lại: “Ngày đó, tôi còn thấy cây Kơ nia ở khắp nơi: Chân núi, ven đồi, đầu buôn, bờ suối..., nhưng người ta đã chặt cây, đốn gỗ, phá rừng làm nương rẫy. Những cây Kơ nia cũng chịu chung số phận của những cánh rừng. Có một dạo, người ta còn muốn chặt hạ cả mấy cây Kơ nia đầu buôn để lấy đất xây nhà, dựng quán. Nhưng già làng đã không cho phép ai được làm điều đó. Bởi Kơ nia là người thân của buôn làng, là hồn cốt của buôn làng, phải giữ lấy!”. Bây giờ, Kơ nia của làng Phung vẫn còn đó, xòa bóng mát bên đường cho người làng nghỉ chân mỗi lúc mệt mỏi.

Thao thiết gió triền đồi

Kơ nia phát triển hết cỡ có thể cao đến 30-40 mét, đường kính vòng thân trên dưới nửa mét. Tán lá luôn vun hình bầu dục, vươn thẳng lên trời, xanh tốt quanh năm vì không có mùa thay lá. Trước đây, ở Tây Nguyên đâu đâu cũng thấy Kơ nia. Những bóng Kơ nia lừng lững ven dọc đường đi, trầm tư trên triền đồi nương, rủ bóng quanh các buôn làng... luôn là hình ảnh quen thuộc, thân thương trong mắt mọi người. Nhưng rồi, cây Kơ nia dần vắng bóng và lùi ra xa những khu dân cư, nhất là quanh vùng đô thị, chỉ còn lại ít ỏi ở những vùng xa.

Cuối tháng 4, cũng là cuối mùa khô Tây Nguyên, gió vẫn thao thiết triền đồi, nắng vẫn hừng hực vàng, những rừng cao su, cà phê, tiêu vẫn đang xanh ngăn ngắt một màu, nhưng dường như đều đặn và bình lặng quá đỗi trong những cánh rừng cây trồng công nghiệp ấy, chẳng còn mấy cây Kơ nia ở vùng đất này nữa. Già Rơ Châm Chuck vẫn nhớ, ngày xưa, vùng này nhiều cây Kơ nia lắm. Kơ nia thấp thoáng xa xa, cao hẳn lên trên tán rừng, đó là điểm đánh dấu cho những buôn làng. Chỉ cần nhìn thấy cây Kơ nia là biết ở đó có làng.

Không chỉ già Chuck mà những người làng khác, ở những vùng đất khác, trên cao nguyên Kon Tum, hay cao nguyên Lâm Viên, hay dưới vùng thung lũng Ayun, dưới vùng An Khê... của những tộc người Ê Đê, Xê Đăng, Ba Na... đều thao thiết với Kơ nia. Trong những ngày tháng chiến đấu cam go với kẻ thù, hẳn đã có rất nhiều người tựa nương vào Kơ nia tránh lửa đạn, đập hạt Kơ nia ăn chống đói. Hay những lúc im tiếng súng, lại có những người như già Chuck ngồi tựa đầu dưới bóng mát cổ thụ trăm năm để nhớ thương một khúc dân ca vẳng lại từ ký ức như những ngày còn nằm trên lưng mẹ.

“Bây giờ, cây Kơ nia còn ít quá!”, già Chuck quày quả bước vào nhà. Câu chuyện đột nhiên rơi vào im lặng. Già Chuck trao đổi gì đó với lũ trẻ bằng ngôn ngữ Jrai, rồi lũ trẻ cũng sôi nổi hẳn. Chúng mang ra một rổ hạt. Chỉ vào đó và nói: “Mình đi chăn bò thường nhặt quả Kơ nia ăn, ngon lắm. Hạt của nó ăn bùi gần giống đậu phộng. Con nai, con mang cũng rất thích ăn quả này!”.

Chiều hoàng hôn phủ xuống đỏ ối phía triền Tây, tôi dừng lại, ngắm nhìn để cảm nhận sâu hơn những cảm xúc mà mình có được về một loài cây biểu tượng này. Tiếng lá rì rầm như một lời thủ thỉ trò chuyện từ ngàn xưa vọng lại, tiếng chim hót ríu rít trên cao. Thỉnh thoảng, đàn chim cất cánh bay lên giữa không trung rồi lúc lại trở về chốn cũ trên những cành cây vươn ra giữa bầu trời. Không biết ở những vùng đất khác trên cao nguyên này có còn nơi nào giữ lại được nhiều cây Kơ nia không, dù người ta gọi Kơ nia là cây “mồ côi”, bởi loài này không mọc tập trung thành rừng mà rải rác, đơn lẻ. Nó “mồ côi” như một ám ảnh nhân sinh trong các cộng đồng buôn làng ở Tây Nguyên.

Bây giờ, cây Kơ nia đã có tên trong Sách đỏ, bởi ngay tại Tây Nguyên thì loài cây này cũng đã trở thành của hiếm. Làm sao đừng để Kơ nia chỉ còn trong hoài niệm? Và biết đâu chừng, về sau xa nữa, nếu không được bảo tồn ngay từ giờ này thì Kơ nia có lẽ cũng sẽ chỉ còn là... ký ức, như cái cách mà già Amí Toan hay già Chuck vẫn thẫn thờ nhắc nhớ.

Tiêu Dao

Bình luận

ZALO