Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Chủ nhật, 17/10/2021 07:58 GMT+7

Thiêng liêng nắm đất Vũng Rô

Biên phòng - Trong Bảo tàng Lịch sử Hải quân Việt Nam hiện đang lưu giữ một nắm đất trĩu nặng nghĩa tình. Đó là món quà của cô dân công tại bến Vũng Rô trao tặng Thuyền trưởng tàu không số Hồ Đắc Thạnh trong đêm giao thừa nửa thế kỷ trước. 

34a-1.JPG
Trung tá Hồ Đắc Thạnh (bên phải) .
 
Ra đi để trở về

Vào tuổi 80, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Hồ Đắc Thạnh vẫn khỏe mạnh, nhanh nhẹn, giọng nói trầm hùng. Những ngày cuối năm này cũng là dịp kỷ niệm 50 năm tàu không số chở chuyến hàng đầu tiên vào bến Vũng Rô. Chúng tôi đến bên ông, hỏi chuyện về kỷ vật nắm đất Vũng Rô, ông chỉ tay về phía người phụ nữ đã qua tuổi lục tuần, đang đứng trên bến di tích nhìn ra biển, nở nụ cười hóm hỉnh ông bảo, đó là cô dân quân trong câu chuyện. Tết này tròn nửa thế kỷ nhận nắm đất của em trao!

Cựu binh Hồ Đắc Thạnh - nguyên Thuyền trưởng tàu không số - người có 12 chuyến vượt biển, vận chuyển vũ khí chi viện cho chiến trường miền Nam. Chân dung ông là nguyên mẫu nhân vật chính trong bộ phim truyền hình nhiều tập "Những người lính biển" của đạo diễn Trần Vịnh.

Nhắc chuyện duyên nghiệp đời lính, ông kể, năm đó, ông chuẩn bị vào lớp nhất thì Cách mạng tháng Tám nổ ra ở thị xã Tuy Hòa. Vậy là cậu học sinh Hồ Đắc Thạnh xếp bút nghiên, tham gia đoàn biểu tình chống Pháp đi diễu hành khắp phố phường. Sau đó, ông gia nhập lực lượng bộ binh và tập kết ra Bắc trên chuyến tàu cuối cùng xuất phát từ cảng Quy Nhơn.

Ra miền Bắc, Hồ Đắc Thạnh được Cục phòng thủ bờ biển (tiền thân Bộ Tư lệnh Hải quân) tuyển chọn về Trường 45 ở Hải Phòng học nghiệp vụ hàng hải rồi chuyển tiếp vào khóa đầu tiên Trường Sĩ quan Hải quân ở Quảng Ninh. Từ năm 1960 đến 1964, ông đã trải qua nhiều khóa huấn luyện đào tạo từ hàng hải đến phóng ngư lôi và những chiến thuật chiến đấu khác trên biển. Khi khóa học còn 4 tháng nữa mới kết thúc, ông được điều về Đoàn 759 Hải quân, tiền thân của Lữ đoàn 125.

"Lúc đó, không biết mình được chuyển lên "trên" để làm gì. Chỉ thấy xe chạy thẳng lên Hà Nội, "chui" vô nhà 83 Lý Nam Đế và chúng tôi được phục vụ theo chế độ rất ưu tiên. Ăn uống rất chất lượng, được phục vụ văn nghệ, xem phim tại chỗ.... nhưng không được phép ra ngoài, không được liên lạc với bất kỳ ai bằng bất kỳ hình thức nào. "Ăn chơi" chừng một tháng, chúng tôi được đưa lên xe bít bùng chở đi" - Người Thuyền trưởng nhớ lại.

Sau này, ông Thạnh và những người đồng đội mới biết mình đã được đưa đến Đồ Sơn. Tại đó, mọi người được "nghỉ dưỡng" để có sức khỏe chuẩn bị tham gia vận chuyển vũ khí, chi viện cho chiến trường miền Nam theo đường biển. Ông được bổ sung vào đội tàu 54, làm thuyền phó.

Tối 12-9-1963, cùng với những chiếc tàu khác, tàu 54 đã nhổ neo, khởi đầu cho những chuyến đi huyền thoại của những con tàu không số nổi tiếng theo tuyến đường Hồ Chí Minh trên biển vào thẳng chiến trường miền Nam.
Năm tháng đi qua, những con người của một thế hệ dành trọn tuổi thanh xuân cho sự nghiệp thống nhất đất nước đã đến hồi tóc bạc, da mồi, song tình cảm quê hương trong sáng và lý tưởng hiến dâng của họ vẫn như ngọn lửa rực sáng trong trái tim thế hệ trẻ hôm nay.

Ông Thạnh giải thích "Gọi là tàu không số, nhưng thực ra tàu nào cũng có số hiệu. Để tránh tai mắt của địch trong suốt hải trình, tàu vận chuyển vũ khí đều giấu số hiệu thật, mang theo nhiều số hiệu giả và cờ một số quốc gia để hóa trang khi cần thiết. Để đánh lạc hướng địch, nhiều chuyến tàu không số phải ra hải phận quốc tế, xuống tận vùng biển Ma-lai-xi-a rồi ngược lên Cà Mau.

Có lần, máy bay địch đến gần, chúng tôi phải treo những tấm lưới chuồn, xâu cá khô trên khẩu pháo giống như tàu đánh cá của ngư dân". Sau lần đầu làm thuyền phó trên tàu 54 chở 60 tấn vũ khí vào Cà Mau, thêm một chuyến làm thuyền phó trên tàu 56 vào Bến Tre, đến ngày 6-12-1963, ông Thạnh chính thức đảm nhiệm chức vụ Thuyền trưởng tàu 41, bắt đầu chỉ huy những chuyến tàu vận chuyển vũ khí vào Bến Tre, Cà Mau, Trà Vinh và Phú Yên.

Nặng tình đất mẹ

Giữa tháng 11-1964, Thuyền trưởng Hồ Đắc Thạnh được lệnh về Đồ Sơn, vận chuyển vũ khí vào bến Vũng Rô. Ông Thạnh nhớ lại: "Nghe tới địa danh Vũng Rô, tôi thật sự bồi hồi xúc động vì được về Phú Yên, quê hương sâu nặng nghĩa tình. Cùng với việc tiếp nhận 60 tấn vũ khí, tôi nghiên cứu hải đồ, xác định thủy triều suốt hành trình và chọn hướng tránh tầm kiểm soát của ra-đa địch...".

Tàu 41 rời Bãi Cháy đêm 24-11-1964, thời tiết trên biển xấu dần. Hai ngày sau, khi đang vượt qua vĩ tuyến 17 thì tàu nhận điện báo "Bộ Tư lệnh Vùng 1 duyên hải cử 2 tàu chiến hộ tống phái đoàn Mỹ thị sát ra-đa Cù Lao Ré, tàu 41 phải chú ý khi qua Đà Nẵng". Trưa hôm đó, một máy bay trinh sát xuất hiện, nhưng thủy thủ tàu 41 đã khẩn trương treo cờ "ba que" và giơ cao những xâu cá, mực, rượu chai để chào mời như ngư dân thứ thiệt.

Nửa giờ sau, thêm hai tàu tuần tra xuất hiện, bám sát một hồi mới rút lui. 12 giờ trưa 28-11-1964, tàu 41 cách bờ biển Phú Yên 120 hải lý, nhưng phải thả neo, chờ nửa đêm mới vào Vũng Rô. Trên chiếc xuồng nhỏ, ông Trần Suyền, Bí thư Tỉnh ủy Phú Yên ra đón tàu và đã bật khóc khi nhận ra thuyền trưởng là người đồng hương.

Ông Thạnh kể: "Lúc đó, đường bộ qua đèo Cả đã bị địch phong tỏa nhiều ngày đêm nên lương thực, thực phẩm cho lực lượng bốc chuyển vũ khí gần như cạn hết. Vào bến, nhìn bộ đội, dân công ăn sung rừng, tôi thật sự xót lòng. Trước chuyến tàu thứ hai về Phú Yên đêm 25-12-1964, tôi lên Hà Nội khẩn thiết đề nghị và đã được Bộ Tư lệnh Hải quân hỗ trợ 3 tấn gạo tám thơm để chuyển vào cho bến Vũng Rô".

Ăn Tết giữa lòng địch

Đó là lần thứ ba vào Vũng Rô. Ông Thạnh cho biết, lúc đó, chỉ còn hơn nửa tháng là tới Tết, ông nhận được chỉ đạo của Bộ Tư lệnh Hải quân, phải đưa 60 tấn vũ khí vào bến Vũng Rô trong đêm giao thừa Ất Tỵ 1965.

Trong tâm trạng nôn nao, vui mừng vì được đón Tết ở quê hương, ông Thạnh cùng đồng đội góp tiền mua kẹo, bánh chưng, chè Thái Nguyên, thuốc lá Thăng Long, bia Trúc Bạch. Để che giấu nguồn gốc, những vật phẩm đó đều được bóc gỡ nhãn hiệu trước khi đưa lên tàu. Một thủy thủ còn mua cả cành đào đem về xếp gọn vào thùng giấy để dưới hầm tàu.

Vượt qua nhiều trở ngại, tàu 41 vào Vũng Rô lúc 23 giờ 42 phút, ngày 1-2-1965. Đạn pháo của địch từ đèo Cả dội sáng một khoảng trời, anh em cứ ngỡ bị lộ, nhưng hóa ra địch đang đón giao thừa. Khi Bí thư Tỉnh ủy Trần Suyền cùng nhóm dân công đầu tiên lên tàu cũng là lúc chiếc radio ở phòng báo vụ âm vang lời chúc Tết đầy ấm áp, thân thương của Bác Hồ kính yêu trên sóng phát thanh Đài tiếng nói Việt Nam.
Trung tá Thạnh nói với chúng tôi, trong đời binh nghiệp vào sinh ra tử của mình, không ít lần đón Tết nơi tiền tuyến, nhưng có lẽ cái Tết ở Vũng Rô mùa xuân năm ấy mãi mãi là kỷ niệm đẹp nhất trong cuộc đời mình.

Dưới ánh sáng đèn dù của địch, anh em trên tàu và ở bến tranh thủ vừa thay nhau bốc chuyển vũ khí, vừa mở tiệc liên hoan mừng xuân mới, cùng chia nhau thưởng thức quà Tết từ miền Bắc. Bữa liên hoan hôm đó có đầy đủ thịt mỡ, dưa hành, bánh chưng, bánh tét, kẹo.

Trong niềm hân hoan, mọi người chúc nhau một mùa xuân toàn thắng. Giờ phút lắng lại trong tâm trạng bồi hồi xúc động đi qua, gần 3 giờ sáng, khi tàu chuẩn bị rời bến, bất ngờ một nữ dân công trẻ thay mặt đoàn dân công trao cho Thuyền trưởng Hồ Đắc Thạnh một nắm đất gói trong chiếc khăn mùi xoa. "Cô gái ngập ngừng giây lát rồi liền một mạch bày tỏ: "Bà con xin gửi nắm đất Phú Yên theo tàu anh ra Bắc.

Dù mảnh đất này bom đạn chà đi xát lại nhiều lần, nhưng chúng tôi vẫn một lòng hướng theo Đảng, theo Bác Hồ... giữ vững niềm tin chiến thắng khi đã có vũ khí được chi viện từ miền Bắc thân yêu". Tôi run run đỡ nắm đất quê hương, xúc động: "Thưa bà con, cô bác, chúng con xin nhận nắm đất này, coi đây là lời dặn dò thiêng liêng của đất mẹ Phú Yên... Chúng con nguyện xứng đáng...". Tôi không nói được hết ý mình, bởi lúc ấy, giọng tắc nghẽn và nước mắt đã giàn giụa trên má..." - Ông Thạnh hồi tưởng.
Phương Oanh

Bình luận

ZALO