Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Thứ bảy, 16/10/2021 06:56 GMT+7

Sau 10 năm thực hiện Nghị định 05/2011/NĐ-CP:

Thấy gì từ những con số? (bài 2)

Biên phòng - 58.123 hộ DTTS thiếu đất ở; 122.448 hộ còn ở nhà tạm bợ, dột nát; 223.449 hộ thiếu nước sinh hoạt; trong tổng số 3.680.943 hộ DTTS thì có khoảng 7% chưa được sử dụng điện lưới quốc gia… Đây là những con số phản ánh sự thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản ở vùng đồng bào DTTS và miền núi hiện nay. Sự thiếu hụt này được dự báo sẽ càng sâu hơn khi áp dụng chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021-2025.

Bài 2: Mong manh… nghèo đa chiều!

Thiếu hụt nhiều chỉ số cơ bản

Vàng Ma Chải, Mù Sang là hai xã biên giới đặc biệt khó khăn của tỉnh Lai Châu. Trong nhiều cái khó của hai xã này, tình trạng thiếu nước sinh hoạt là bức bách nhất.

Do nằm trên núi cao, xa nguồn nước, nên dù đã có nhiều chương trình, dự án đầu tư, hỗ trợ cấp nước sinh hoạt cho người dân nhưng đến nay, bà con ở nhiều thôn bản ở Vàng Ma Chải và Mù Sang vẫn trong tình trạng “khát nước”. Một năm có 12 tháng, người dân chỉ có đủ nước sinh hoạt trong khoảng 3 - 5 tháng.

Toàn vùng DTTS và miền núi vẫn còn 122.488 hộ người DTTS đang ở nhà tạm bợ, dột nát cần hỗ trợ. Trong ảnh: Ngôi nhà ở của một hộ đồng bào dân tộc Mảng ở xã Vàng San, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu. Ảnh chụp trước ngày 27-4-2021. Ảnh: Tùng Nguyên

Mới đây, tỉnh Lai Châu đã quyết định đầu tư công trình cấp nước tại xã Mù Sang (12,5 tỷ đồng) và xã Vàng Ma Chải (10,8 tỷ đồng) để cấp nước sinh hoạt cho hơn 800 hộ của 2 xã. Tuy nhiên, theo đánh giá của chính quyền địa phương, với 2 công trình này, khi được đưa vào sử dụng trong thời gian tới cũng chỉ đáp ứng được nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt tối thiểu của người dân.

Tình trạng thiếu nước sinh hoạt cũng xảy ra ở nhiều địa bàn thuộc vùng DTTS và miền núi. Theo báo cáo số 732/BC-UBDT ngày 10-6-2021 về “Tổng kết Chiến lược công tác dân tộc đến năm 2020” của Ủy ban Dân tộc (gọi tắt là báo cáo 732), toàn vùng vẫn còn 223.449 hộ thiếu nước sinh hoạt. Còn nếu tính yếu tố thiếu nước sinh hoạt hợp vệ sinh, vùng DTTS và miền núi có khoảng 626.567 hộ; trong đó, có 363.338 hộ là đồng bào DTTS.

Không chỉ thiếu nước sinh hoạt, mà nhiều chỉ số dịch vụ xã hội cơ bản vẫn đang là niềm mong mỏi của người dân ở vùng DTTS và miền núi, nhất là ở những địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới. Theo báo cáo 732 của Ủy ban Dân tộc, hiện, còn 58.123 hộ DTTS thiếu đất ở; khoảng 7% hộ DTTS (trong tổng số 3.680.943 hộ DTTS cả nước) chưa được sử dụng điện lưới quốc gia; 20,8% người DTTS trên 15 tuổi chưa độc thông, viết thạo tiếng Việt; tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng thấp còi cao gấp 2 lần mức bình quân chung cả nước; tỷ lệ dùng thẻ BHYT khám, chữa bệnh mới chỉ đạt 44,8%; có 51/53 DTTS có tỷ lệ dưới 10% hộ sử hữu máy tính và tiếp cận được với dịch vụ Internet…

Đáng chú ý là, toàn vùng DTTS và miền núi hiện vẫn còn 469.137 hộ (trong đó có 122.488 hộ người DTTS) đang ở nhà tạm bợ, dột nát cần hỗ trợ. Tỷ lệ hộ có nhà tiêu hợp vệ sinh cũng rất thấp (chỉ đạt 27,9%, trong khi bình quân chung cả nước đạt 71,9%); riêng dân tộc Ơ Đu không có hộ nào sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh…

Vẫn “hụt” về thu nhập

Để giảm nghèo đa chiều cho vùng đồng bào DTTS và miền núi, nhất là các địa bàn đặc biệt khó khăn, hàng loạt các chương trình, dự án đã được ban hành, triển khai thực hiện, với sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, từ Trung ương đến cơ sở. Mặc dù nguồn lực còn khó khăn, nhưng Chính phủ đã ưu tiên bố trí nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước để thực hiện các chính sách đã ban hành.

Theo thông tin của Ủy ban Dân tộc, giai đoạn 2011-2020, ngân sách nhà nước đã bố trí khoảng 1 triệu 668 nghìn tỷ đồng (trong đó, giai đoạn 2011-2015 khoảng 690 nghìn tỷ đồng và giai đoạn 2016-2020 khoảng 998 nghìn tỷ đồng) để thực hiện các chương trình, dự án đầu tư, hỗ trợ cho các địa bàn này. Trước đó, giai đoạn 2003-2008, các địa bàn đặc biệt khó khăn cũng đã được ngân sách bố trí khoảng 250 nghìn tỷ đồng để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Theo báo cáo 732 của Ủy ban Dân tộc, đối tượng nghèo đang diễn biến tập trung vào DTTS. Chỉ tính riêng giai đoạn 2014-2017, số hộ nghèo là người DTTS mỗi năm tăng thêm 67 nghìn hộ.

Cùng với đó là nguồn vốn tín dụng - “bà đỡ” cho hộ nghèo vươn lên phát triển kinh tế. Đến thời điểm này, theo báo cáo của Bộ Tài chính, cả nước hiện có 1,4 triệu khách hàng là hộ DTTS đang thụ hưởng hầu hết các chương trình tín dụng ưu đãi, với tổng dư nợ đạt 46.159 tỷ đồng, chiếm 24,6% dư nợ của Ngân hàng Chính sách Xã hội; dư nợ bình quân đạt 31,4 triệu đồng/hộ.

Vậy nhưng, thu nhập hiện vẫn là tiêu chí thiếu hụt cơ bản của hộ nghèo, hộ cận nghèo là người DTTS hiện nay. Theo Quyết định số 576/QĐ-LĐTBXH ngày 18-5-2021 của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, hết năm 2020, cả nước còn 761.322 hộ nghèo thì có 716.920 nghèo về thu nhập; trong 466.610 hộ nghèo là người DTTS (chiếm 61,29% tổng số hộ nghèo cả nước) thì đại đa số là do “hụt” thu nhập.

Đáng chú ý, theo báo cáo 732 của Ủy ban Dân tộc, hiện, thu nhập bình quân của người DTTS dù đã tăng gấp 5 lần so với năm 2011, nhưng cũng chỉ mới bằng 0,3 lần so với bình quân chung cả nước. Không những vậy, thu nhập bình quân giữa các DTTS không đồng đều; các DTTS rất ít người có thu nhập bình quân rất thấp. Đơn cử như thu nhập của dân tộc Ngái bình quân đạt 1,716 triệu đồng/người/tháng thì với dân tộc Ơ Đu chỉ đạt 0,566 triệu đồng/người/tháng.

Thu nhập thấp, lại bấp bênh được dự báo sẽ làm gia tăng tỷ lệ hộ nghèo người DTTS, nhất là ở các DTTS rất ít người, trong thời gian tới. Khi mà từ tháng 1-2022, chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021-2025 sẽ được đo lường theo các quy định tại Nghị định số 07/2021/NĐ-CP, ngày 27-1-2021 của Chính phủ; trong đó, tiêu chí về thu nhập được nâng lên, dự báo tỷ lệ hộ nghèo sẽ tăng ( năm 2016, khi lần đầu tiên áp dụng chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2016-2020, tỷ lệ hộ nghèo đã tăng đột biến).

Theo Nghị định số 07/2021/NĐ-CP của Chính phủ quy định chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021-2025, ngoài các chỉ số về dịch vụ xã hội cơ bản thì hộ nghèo ở nông thôn là hộ có thu nhập từ 1,5 triệu đồng/người/tháng trở xuống. Còn giai đoạn 2016-2020, theo Quyết định 59/2015/QĐ-TTg, hộ nghèo khu vực nông thôn là hộ có thu nhập từ 700 nghìn đồng/người/tháng trở xuống.

Bài 3: Cần lời giải cho bài toán “sinh kế”

Tùng Nguyên

Bình luận

ZALO