Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Thứ sáu, 25/06/2021 01:43 GMT+7

Thành quả từ các chính sách đặc thù cho vùng dân tộc thiểu số

Biên phòng - Mặc dù có xuất phát điểm thấp, nhưng bằng chính sách đặc thù, phù hợp với tình hình thực tế, nhiều tỉnh vùng dân tộc thiểu số (DTTS) và miền núi đã góp phần làm thay đổi bộ mặt nông thôn miền núi.

Những con đường rộng mở nhờ sự chung sức của chính quyền và nhân dân huyện Sơn Động (Bắc Giang). Ảnh: Phương Tú

Từ chính sách đúng đến những con đường đẹp

Lên tới các huyện xa xôi, có đông đồng bào DTTS sinh sống của Bắc Giang như: Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế…, nhiều người không khỏi ấn tượng bởi những con đường bê tông chạy dài, nối liền các thôn, xã, uốn lượn theo đồi núi.

Theo ông Vi Thanh Quyền, Trưởng ban Dân tộc tỉnh Bắc Giang, những con đường này chính là thành quả từ các chính sách đặc thù mà Ban Dân tộc tỉnh Bắc Giang đã tham mưu với HĐND, UBND tỉnh ban hành nhằm cụ thể hóa các quy định của Trung ương cho phù hợp với điều kiện thực tế ở các xã vùng DTTS và miền núi của địa phương. Cụ thể như Nghị quyết số 34/2015/NQ-HĐND; Nghị quyết số 12/2018/NQ-HĐND quy định chính sách hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng và giảm nghèo bền vững cho 30 thôn, bản đặc biệt khó khăn (ĐBKK) nhất của Bắc Giang. Trong đó, hỗ trợ từ ngân sách tỉnh 1 tỉ đồng/thôn (giai đoạn 2016-2018) và 1,5 tỉ đồng/thôn (giai đoạn 2019-2021) để đầu tư xây dựng công trình giao thông, thủy lợi.

Cùng với nguồn vốn Chương trình 135, Chương trình xây dưng nông thôn mới, HĐND tỉnh Bắc Giang đã ban hành Nghị quyết quy định chính sách hỗ trợ làm đường giao thông nông thôn giai đoạn 2017-2019. Theo đó, ngân sách tỉnh hỗ trợ toàn bộ xi măng, chi phí vận chuyển, hỗ trợ thêm 100 triệu đồng/km; ngân sách các huyện hỗ trợ từ 150-200 triệu đồng/km khi thực hiện ở các xã, thôn ĐBKK…

Với cách làm này, chỉ trong 3 năm, Bắc Giang đã thực hiện cứng hóa trên 4.300km, nhiều xã ĐBKK của huyện Lục Ngạn, Lục Nam cứng hóa trên 60km, đặc biệt có xã cứng hóa được gần 100km đường đến trung tâm xã, đường trục thôn, liên thôn. Từ những con đường này, đồng bào các dân tộc Nùng, Tày, Sán Dìu, Hoa, Cao Lan… không chỉ di chuyển dễ dàng, mà việc vận chuyển nông sản cũng thuận lợi hơn rất nhiều.

Giúp người Lô Lô xây bản làng, giữ gìn văn hóa

Ông Bế Văn Hùng, Trưởng ban Dân tộc tỉnh Cao Bằng cho biết, trong số 8 dân tộc sinh sống lâu đời ở tỉnh Cao Bằng, dân tộc Lô Lô (chiếm 0,54% dân số) là cộng đồng có nguy cơ bị ảnh hưởng, tụt hậu lớn nhất trong quá trình phát triển. Trong khi tỉ lệ hộ nghèo chung của tỉnh là 22,06% thì người Lô Lô vẫn còn tới 55,62%; tình trạng suy dinh dưỡng, tảo hôn, cận hôn diễn ra phổ biến ở hầu hết các thôn, bản người Lô Lô. Đến nay, hơn 500 hộ người Lô Lô vẫn cư trú ở vùng xa xôi, hẻo lánh, địa hình phức tạp, thời tiết khắc nghiệt, thiếu điện và nước sạch…

Trước thực tế này, để rút ngắn khoảng cách của đồng bào Lô Lô so với các dân tộc khác trong tỉnh, UBND tỉnh Cao Bằng đã có Quyết định số 1969/QĐ-UBND ngày 6-11-2019 giao cho Ban Dân tộc tỉnh Cao Bằng làm chủ đầu tư thực hiện Đề án hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc Lô Lô giai đoạn 2016-2025 theo Quyết định số 2086/QĐ-TTg ngày 31-10-2016 của Thủ tướng Chính phủ.

Kết quả, năm 2019 và 2020, với 37,047 tỉ đồng hỗ trợ đồng bào Lô Lô, đã giải ngân được 30,069 tỉ đồng (đạt 81,2% kế hoạch), hỗ trợ đồng bào Lô Lô mua hơn 1 triệu cây hồi, quế, sở; 354 con bò sinh sản; 169 chuồng trại; trang bị thiết bị cho nhà sinh hoạt cộng đồng; đầu tư dự án đường giao thông, nhà công vụ giáo viên, nhà sinh hoạt cộng đồng.

Hướng dẫn xây dựng đội văn nghệ quần chúng dân tộc Lô Lô ở làng Khuổi Khon, xã Kim Cúc, huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng. Ảnh: Phương Tú

Với sự hỗ trợ toàn diện này, nhiều lễ hội, nghi lễ của người Lô Lô đã được phục dựng; có thêm đường mới, thêm cây - con giống… ý thức về phát triển kinh tế, chăm lo cho con cái học hành của nhiều hộ đồng bào Lô Lô cũng đã dần thay đổi theo hướng tích cực.

“Để bảo tồn làng văn hóa truyền thống dân tộc Lô Lô hay xây dựng đường giao thông, nhà sinh hoạt cộng đồng và rất nhiều công trình khác ở Bảo Lâm, Bảo Lạc - 2 huyện xa xôi, khó khăn nhất tỉnh Cao Bằng, các cán bộ Ban Dân tộc tỉnh đã bám dân, bám địa bàn lắng nghe nguyện vọng thực tế của nhân dân đến nghiên cứu kỹ phong tục, tập quán, thói quen của đồng bào…, từ đó tìm ra phương thức hỗ trợ thật sự hiệu quả theo từng địa bàn, từng thời kỳ…” – Ông Bế Văn Hùng chia sẻ.

Nâng cao nhận thức, giảm dần tảo hôn

Trong lúc số xã, thôn ĐBKK ở nhiều địa phương đang giảm theo từng năm thì con số này của Bắc Kạn tăng hơn so với năm trước. Bà Triệu Thị Thu Phương, Trưởng ban Dân tộc tỉnh Bắc Kạn cho hay: Hiện nay, Bắc Kạn đang có tới 67 xã, 647 thôn ĐBKK. Đáng lưu ý là, một trong những lực cản lớn đối với vấn đề giảm nghèo của Bắc Kạn là tình trạng tảo hôn vẫn tiếp diễn ở nhiều thôn, bản, trực tiếp làm suy giảm chất lượng dân số, dẫn tới thất học, đói nghèo…

Năm 2018, thực hiện Đề án “Giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng đồng bào DTTS giai đoạn 2015-2025” theo Quyết định số 498/QĐ-TTg ngày 14-4-2015 của Thủ tướng Chính phủ, Ban Dân tộc tỉnh Bắc Kạn đã tham mưu cho UBND tỉnh Bắc Kạn ban hành Quyết định số 1436/QĐ-UBND ngày 18-9-2015 phê duyệt kế hoạch thực hiện Đề án “Giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng DTTS tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2015-2020”.

Với sự vào cuộc đồng bộ, từ năm 2018 đến nay, Bắc Kạn đã xây dựng được 11 mô hình điểm tại 4 huyện thường xuyên xảy ra tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống; thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh, cấp huyện, nhóm nòng cốt thực hiện các mô hình. Bằng các hình thức tuyên truyền đa dạng, phong phú, phù hợp với từng đối tượng cụ thể (áp phích, tờ rơi, sân khấu hóa, các chương trình truyền hình, phát thanh bằng tiếng phổ thông và tiếng dân tộc…), Đề án đã nhận được sự quan tâm của cấp ủy, chính quyền địa phương, người dân, nhất là các em học sinh. Kết quả cho thấy, tình trạng tảo hôn ở Bắc Kạn đang giảm dần qua từng năm: Năm 2016 có 178 cặp; năm 2017 có 169 cặp; năm 2018 có 133 cặp; năm 2019 có 114 cặp; năm 2020 còn 95 cặp.

Từ những kết quả ban đầu, bà Triệu Thị Thu Phương cho rằng: Để tuyên truyền về tác hại của tảo hôn đạt hiệu quả, việc lựa chọn hình thức tuyên truyền ngắn gọn, hấp dẫn, dễ hiểu là rất quan trọng. Đặc biệt, việc tranh thủ các chức sắc, tôn giáo, người có uy tín trong cộng đồng để tuyên truyền, vận động là rất cần thiết, bởi đây là những người có tiếng nói rất quan trọng ở thôn, làng…

Phương Tú

Bình luận

ZALO