Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Thứ tư, 28/07/2021 09:12 GMT+7

Thẩm quyền, thời hạn, thủ tục quyết định hạn chế, tạm dừng hoạt động ở vành đai biên giới, khu vực biên giới, qua lại biên giới tại cửa khẩu, lối mở biên giới đất liền

Biên phòng - Phù hợp với Công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên; cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013; bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, nhất là với các luật có liên quan; nhằm đáp ứng tính chất cấp bách, kịp thời của việc giải quyết các tình huống, sự kiện, vụ việc xảy ra trên biên giới, Luật Biên phòng Việt Nam quy định thẩm quyền, thời hạn, thủ tục quyết định hạn chế, tạm dừng hoạt động ở vành đai biên giới, khu vực biên giới, qua lại biên giới tại cửa khẩu, lối mở biên giới đất liền tại các khoản 3, 4, 5, 6, 7, Điều 11 như sau:

BĐBP Cao Bằng kiểm tra y tế các công dân nhập cảnh trái phép từ Trung Quốc vào Việt Nam. Ảnh: CTV

Thứ nhất, về thẩm quyền quyết định hạn chế hoặc tạm dừng hoạt động trong vành đai biên giới, khu vực biên giới, qua lại biên giới tại cửa khẩu, lối mở biên giới đất liền.

Theo phạm vi quản lý, thẩm quyền quyết định hạn chế hoặc tạm dừng hoạt động trong vành đai biên giới thuộc Đồn trưởng đồn Biên phòng, trong khu vực biên giới thuộc Chỉ huy trưởng BĐBP cấp tỉnh. Theo phạm vi quản lý và loại cửa khẩu biên giới đất liền, thẩm quyền quyết định hạn chế hoặc tạm dừng qua lại biên giới tại cửa khẩu phụ, lối mở thuộc Đồn trưởng đồn Biên phòng; tại cửa khẩu chính hoặc cửa khẩu song phương thuộc Chỉ huy trưởng BĐBP cấp tỉnh, Chủ tịch UBND cấp tỉnh; tại cửa khẩu quốc tế thuộc Thủ tướng Chính phủ. Ngoài ra, Luật này cũng quy định thẩm quyền gia hạn hạn chế hoặc tạm dừng qua lại biên giới đối với 3 chức danh: Đồn trưởng đồn Biên phòng; Chỉ huy trưởng BĐBP cấp tỉnh; Chủ tịch UBND cấp tỉnh.

Thứ hai, về thời hạn quyết định hạn chế, tạm dừng hoạt động ở vành đai biên giới, khu vực biên giới, qua lại biên giới tại cửa khẩu, lối mở biên giới đất liền.

Luật này quy định các thời hạn quyết định hạn chế, tạm dừng tùy thuộc vào thẩm quyền quản lý, địa bàn quản lý và loại cửa khẩu biên giới đất liền. Cụ thể: Đối với chức danh Đồn trưởng đồn Biên phòng được quyền hạn chế hoặc tạm dừng hoạt động trong vành đai biên giới không quá 12 giờ; qua lại cửa khẩu phụ, lối mở không quá 6 giờ. Đối với chức danh Chỉ huy trưởng BĐBP cấp tỉnh được quyền hạn chế hoặc tạm dừng hoạt động trong khu vực biên giới không quá 24 giờ; qua lại cửa khẩu phụ, lối mở không quá 12 giờ; qua lại cửa khẩu chính hoặc cửa khẩu song phương không quá 6 giờ.

Đối với chức danh Chủ tịch UBND cấp tỉnh được quyền hạn chế hoặc tạm dừng qua lại cửa khẩu chính hoặc cửa khẩu song phương không quá 24 giờ. Luật Biên phòng Việt Nam cũng quy định thời hạn gia hạn hạn chế hoặc tạm dừng qua lại biên giới theo nguyên tắc: Thời hạn gia hạn không quá thời hạn quyết định lần đầu của chính chức danh đó và phải được tiến hành trước khi hết thời hạn hạn chế hoặc tạm dừng qua lại biên giới, thỏa mãn các điều kiện sau: 1) Xét thấy cần tiếp tục hạn chế hoặc tạm dừng; 2) Phải báo cáo ngay và được sự đồng ý của cấp trên trực tiếp trước khi ra quyết định; 3) Phải thực hiện thủ tục thông báo theo quy định.

Thứ ba, về thủ tục báo cáo, đề nghị, thông báo quyết định hạn chế, tạm dừng hoạt động ở vành đai biên giới, khu vực biên giới, qua lại biên giới tại cửa khẩu, lối mở biên giới đất liền.

Thủ tục báo cáo được quy định dựa trên nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan trong bộ máy Nhà nước (đặc biệt là nguyên tắc tập trung dân chủ) và chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý hành chính Nhà nước có thẩm quyền chung ở địa phương. Theo đó, trong phạm vi thẩm quyền, khi quyết định hạn chế, tạm dừng hoạt động ở vành đai biên giới, khu vực biên giới, qua lại biên giới tại cửa khẩu, lối mở biên giới đất liền thì Đồn trưởng đồn Biên phòng báo cáo ngay Chỉ huy trưởng BĐBP cấp tỉnh; Chỉ huy trưởng BĐBP cấp tỉnh báo cáo ngay UBND cấp tỉnh, Tư lệnh BĐBP; Chủ tịch UBND cấp tỉnh báo cáo ngay Thủ tướng Chính phủ.

Thủ tục đề nghị được thực hiện trong 3 trường hợp: 1) Trường hợp hết thời hạn 24 giờ, nếu xét thấy cần phải tiếp tục hạn chế hoặc tạm dừng các hoạt động trong khu vực biên giới, Chỉ huy trưởng BĐBP cấp tỉnh có trách nhiệm đề nghị UBND cấp tỉnh quyết định tiếp tục hạn chế hoặc tạm dừng; 2) Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định hạn chế hoặc tạm dừng qua lại cửa khẩu chính hoặc cửa khẩu song phương không quá 24 giờ theo đề nghị của Chỉ huy trưởng BĐBP cấp tỉnh; 3) Thủ tướng Chính phủ quyết định hạn chế hoặc tạm dừng qua lại cửa khẩu quốc tế theo đề nghị của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao.

Thủ tục thông báo được thực hiện đối với tất cả các trường hợp quyết định hạn chế hoặc tạm dừng hoạt động ở vành đai biên giới, khu vực biên giới, qua lại biên giới tại cửa khẩu, lối mở biên giới đất liền (bao gồm cả trường hợp chấm dứt việc hạn chế, tạm dừng trước thời hạn). Phụ thuộc vào phạm vi ảnh hưởng của quyết định hạn chế hoặc tạm dừng, các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết với các nước có chung biên giới mà Luật quy định trách nhiệm và phạm vi thông báo tới cơ quan, tổ chức, cá nhân khác nhau. Ngoài ra, Luật còn quy định về trách nhiệm của người có thẩm quyền quyết định việc hạn chế, tạm dừng, căn cứ tình hình thực tế để ra quyết định và chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình.

Hiện nay, vấn đề này được quy định trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Bên cạnh đó, nhiều văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam cũng ghi nhận như Luật Quốc phòng (Điều 21, Điều 22); Luật Biên giới quốc gia (Điều 21); Luật An ninh quốc gia (Điều 21); Pháp lệnh BĐBP (Điều 14); Nghị định số 02/1998/NĐ-CP ngày 6-1-1998 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh BĐBP (Điều 5); Nghị định số 112/2014/NĐ-CP ngày 21-11-2014 của Chính phủ quy định về quản lý cửa khẩu biên giới đất liền (Điều 17); Thông tư số 2866/1998/TT-BQP ngày 12-9-1998 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng hướng dẫn thi hành Nghị định số 02/1998/NĐ-CP ngày 6-1-1998 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh BĐBP (Điều 3).

Trong đó, nhiều nội dung trong văn bản dưới luật không phù hợp với thực tiễn cũng như quy định của Hiến pháp. Vì thế, quy định này trong Luật Biên phòng Việt Nam phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật và đáp ứng yêu cầu của thực tiễn; nhất là trong điều kiện toàn lực lượng BĐBP cùng cả nước đang tích cực, chủ động triển khai các hoạt động phòng, chống dịch Covid-19, ngăn ngừa sự lây lan dịch bệnh qua biên giới vào nội địa.

Tiến sĩ Phạm Thị Thanh Huế, Khoa Pháp luật, Học viện Biên phòng

Bình luận

ZALO