Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Thứ năm, 29/10/2020 09:00 GMT+7

Tăng cường cơ sở pháp lý trong quan hệ phối hợp thực thi nhiệm vụ Biên phòng

Biên phòng - Từ trước đến nay, BĐBP đã phối hợp tốt với các lực lượng, chính quyền địa phương ở khu vực biên giới, hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia, đảm bảo an ninh trật tự, đấu tranh phòng chống các loại tội phạm, hỗ trợ nhân dân phát triển kinh tế, xã hội... Luật Biên phòng Việt Nam ra đời sẽ tăng cường tính pháp lý trong quan hệ phối hợp thực thi nhiệm vụ Biên phòng giữa các lực lượng. Phóng viên Báo Biên phòng đã có cuộc phỏng vấn ông Nguyễn Thanh Hiền, Phó Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Nghệ An để làm rõ hơn về vấn đề này.

Ông Nguyễn Thanh Hiền.

- Từ thực tế tại địa phương, ông có đánh giá như thế nào về công tác phối hợp thực thi nhiệm vụ Biên phòng trong thời gian vừa qua?

- Từ trước đến nay, hoạt động trên biên giới, khu vực biên giới, cửa khẩu có nhiều lực lượng thuộc các bộ, ngành tham gia. Nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan này đang được quy định tại các văn bản pháp luật chuyên ngành, ngoài ra, các lực lượng cũng ký kết quy chế phối hợp thực hiện nhiệm vụ. Thực tế cho thấy, BĐBP đã phối hợp tốt với các lực lượng, chính quyền địa phương bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia, đảm bảo an ninh trật tự, đấu tranh phòng chống các loại tội phạm, hỗ trợ nhân dân phát triển kinh tế, xã hội...

Tuy nhiên, trên thực tế, việc thực thi nhiệm vụ Biên phòng còn có những hạn chế, bất cập. Công tác phối hợp giữa các bộ, ngành, chính quyền địa phương, lực lượng nòng cốt, chuyên trách với các lực lượng chức năng ở khu vực biên giới, cửa khẩu chưa chặt chẽ, hiệu quả chưa cao. Ngoài ra, việc đầu tư của Nhà nước, địa phương vào một số chương trình, mục tiêu quốc gia tại vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn còn dàn trải, chất lượng, hiệu quả chưa đáp ứng yêu cầu xây dựng biên giới quốc gia, khu vực biên giới vững mạnh. Pháp lệnh BĐBP ra đời cách đây hơn 20 năm trong điều kiện, bối cảnh lịch sử hoàn toàn khác với hiện nay. Pháp lệnh chỉ điều chỉnh những vấn đề liên quan đến BĐBP, chưa đề cập đến các chủ thể khác trong xây dựng, quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, khu vực biên giới. Nhiều nhiệm vụ, quyền hạn của BĐBP không được quy định trong Pháp lệnh mà quy định tại các luật khác và văn bản dưới luật, dẫn đến tình trạng khó theo dõi, thiếu thống nhất, gây khó khăn cho quá trình thực thi nhiệm vụ của BĐBP.

- Luật Biên phòng Việt Nam ra đời sẽ luật hóa quan hệ phối hợp nhiệm vụ Biên phòng. Quan điểm của ông về vấn đề này như thế nào?

- Như tôi đã nói ở trên, từ trước đến nay, công tác phối hợp giữa BĐBP với các lực lượng khác trong việc triển khai nhiệm vụ Biên phòng là rất hiệu quả, tuy nhiên, vẫn còn tồn tại những hạn chế, bất cập. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do thiếu cơ sở pháp lý vững chắc trong quá trình triển khai công tác phối hợp. Luật Biên phòng Việt Nam ra đời sẽ cụ thể hóa các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Nhà nước, thực hiện có hiệu quả các vấn đề chiến lược, lâu dài của Đảng, Nhà nước trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Trong đó chú trọng công tác tăng cường phối hợp, nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ Biên phòng giữa các bộ, ngành, chính quyền địa phương, lực lượng nòng cốt, chuyên trách với các lực lượng chức năng ở khu vực biên giới, cửa khẩu. Cụ thể, Luật Biên phòng Việt Nam quy định rõ phạm vi phối hợp, nguyên tắc phối hợp và nội dung phối hợp công tác Biên phòng.

Ví dụ, ở phạm vi phối hợp, trong dự thảo Luật Biên phòng Việt Nam quy định rõ, Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, chính quyền địa phương cấp tỉnh thực hiện quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, khu vực biên giới; bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng, chính quyền địa phương cấp tỉnh nơi có biên giới quốc gia, cơ quan, tổ chức có liên quan thực thi nhiệm vụ Biên phòng; chính quyền địa phương cấp tỉnh nơi có biên giới quốc gia, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình hoặc theo phân cấp của Chính phủ, chủ trì, phối hợp với bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương, cơ quan, tổ chức có liên quan thực thi nhiệm vụ Biên phòng; chính quyền địa phương cấp huyện, xã nơi có biên giới quốc gia, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình chủ trì, phối hợp với cơ quan, tổ chức liên quan thực thi nhiệm vụ Biên phòng...

- Quan điểm của ông như thế nào khi trong dự thảo Luật Biên phòng Việt Nam nêu rõ BĐBP là lực lượng nòng cốt, chuyên trách quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, khu vực biên giới và chủ trì bảo đảm an ninh, trật tự ở khu vực biên giới, cửa khẩu?

- Trước hết, nội dung thể hiện của nhiệm vụ trên có cơ sở chính trị, pháp lý hết sức vững chắc. Cụ thể: Khoản 2, Điều 31, Luật Biên giới quốc gia, năm 2003, quy định: “BĐBP là lực lượng nòng cốt chuyên trách, phối hợp với lực lượng Công an nhân dân, các ngành hữu quan và chính quyền địa phương trong hoạt động quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở khu vực biên giới theo quy định của pháp luật”; tại Điểm c, Khoản 1, Điều 22, Luật An ninh quốc gia cũng xác định: “BĐBP, Cảnh sát Biển là cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia ở khu vực biên giới trên đất liền và khu vực biên giới trên biển”; trong Khoản 2, Điều 35, Luật Quốc phòng, năm 2018 cũng quy định, Bộ Quốc phòng có nhiệm vụ, quyền hạn: “... duy trì an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở khu vực biên giới, cửa khẩu, hải đảo, vùng biển và vùng trời của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên”.

Nhiệm vụ chủ trì bảo đảm an ninh, trật tự của BĐBP được thực hiện ở địa bàn có tính chất đặc thù và theo chức năng, quyền hạn do pháp luật quy định. Khu vực biên giới bao gồm xã, phường, thị trấn có một phần địa giới hành chính trùng hợp với đường biên giới quốc gia; khu vực cửa khẩu gắn với đường biên giới quốc gia, bao gồm các khu chức năng để đảm bảo cho các hoạt động quản lý Nhà nước và hoạt động dịch vụ, thương mại tại cửa khẩu. Đây là những địa bàn có tính đặc thù, có quy chế pháp lý điều chỉnh về các lĩnh vực xuất, nhập qua cửa khẩu và ra, vào, hoạt động tại đây.

Nhiệm vụ chủ trì bảo đảm an ninh, trật tự ở khu vực biên giới, cửa khẩu của BĐBP được đặt trong mối quan hệ với từng nhóm nhiệm vụ. Nhiệm vụ “Chủ trì bảo đảm an ninh, trật tự ở khu vực biên giới, cửa khẩu” trong dự thảo Luật Biên phòng Việt Nam đã được cơ quan soạn thảo tính toán, cân nhắc xây dựng phù hợp, không chồng chéo với nhiệm vụ quy định tại Điều 14 của Luật An ninh quốc gia. Bên cạnh đó, nhiệm vụ này còn được đặt trong tổng thể mối quan hệ với trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ Biên phòng của cả hệ thống chính trị, các bộ, cơ quan ngang bộ, chính quyền địa phương và lực lượng vũ trang... Trong đó, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an với tư cách là chủ thể nòng cốt, chuyên trách. Thực tiễn cho thấy, BĐBP đã làm tốt công tác phối hợp với chính quyền địa phương, các lực lượng đứng chân ở biên giới (Công an, Hải quan, Kiểm dịch, Kiểm lâm, Kiểm ngư, Cảnh sát Biển...) trong bảo đảm an ninh, trật tự ở biên giới, cửa khẩu, duy trì thực hiện các điều ước quốc tế về biên giới, cửa khẩu và đấu tranh phòng, chống có hiệu quả với các loại tội phạm, nhất là tội phạm về an ninh quốc gia, ma túy, mua bán người..., góp phần quan trọng ổn định tình hình khu vực biên giới, cửa khẩu, xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển.

Một vấn đề nữa, đó là công tác bảo đảm an ninh, trật tự có mối liên hệ chặt chẽ với nhiệm vụ xây dựng thế trận quốc phòng; đặc biệt là ở khu vực biên giới, cửa khẩu. Ở khu vực biên giới, cửa khẩu, hoạt động của BĐBP có cả tính chất quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Vì vậy, khi thực hiện nhiệm vụ nói chung, nhiệm vụ chủ trì bảo đảm an ninh, trật tự theo chức năng, thẩm quyền nói riêng, BĐBP phải kết hợp chặt chẽ, giải quyết tốt mối quan hệ giữa bảo đảm an ninh, trật tự với nhiệm vụ xây dựng thế trận quốc phòng...

- Xin cảm ơn ông!

Viết Lam (thực hiện)

Bình luận

Liên kết hữu ích
ZALO