Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Thứ hai, 21/06/2021 08:39 GMT+7

Tấm lòng yêu thương tướng sĩ của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn

Biên phòng - Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn (1231-1300) là một vị anh hùng dân tộc, văn võ song toàn. Ông là người đã soạn ra sách “Binh thư yếu lược” và sách “Vạn kiếp tông bí truyền thư” để dạy các tướng sĩ phép dùng binh. Sinh thời, ông đã nêu một tấm gương sáng, là một vị thân vương chăm học, một vị Quốc công tiết chế tài ba, nhà quân sự lỗi lạc, biết dựa vào dân và rất yêu thương tướng sĩ.

jz5l_9
Tượng đài Quốc công tiết chế Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Ảnh: Internet

Trần Quốc Tuấn là người thường xuyên quan tâm và thương yêu tướng sĩ, luôn chăm sóc đến đời sống của họ. Trong “Hịch tướng sĩ”, ông đã tuyên bố với các tướng sĩ: “Các ngươi ở cùng ta coi giữ binh quyền đã lâu ngày, không có mặc thì ta cho áo, không có ăn thì ta cho cơm, quan nhỏ thì ta thăng chức, lương ít thì ta cấp bổng; đi thủy thì ta cho thuyền, đi bộ thì ta cho ngựa, lúc trận mạc xông pha thì cùng nhau sống chết, lúc ở nhà nhàn hạ thì cùng vui cười”.

Qua đó cho thấy, Trần Quốc Tuấn đã luôn đồng cam, cộng khổ với tướng sĩ. Tinh thần đồng cam cộng khổ này cũng được thể hiện rất rõ trong “Binh thư yếu lược”: “Trong quân có người ốm, tướng phải thân hành đem thuốc đến chữa; trong quân có người chết, tướng phải thương xót đau buồn. Quân đi thú xa, thì (tướng) phải sai vợ con đến nhà thăm hỏi. Phàm có khao thưởng thì phải chia đều cho quan và quân. Khi có cất đặt chức vị gì, thì phải họp cả tướng tá lại bàn. Mưu đã định rồi mới đánh giặc; cho nên tướng với quân có cái ơn hòa rượu và hút máu”.

Ở đây, Trần Quốc Tuấn đã dẫn tích xưa ở Trung Quốc (mà sau này Nguyễn Trãi cũng đã nói trong Bình Ngô đại cáo): Có một vị tướng tài có một vò rượu ngon do một người đến biếu, ông đem vò rượu ấy đổ xuống sông hòa với nước rồi sai tướng sĩ cùng múc nước mà uống. Ba quân đều được uống rượu, ai nấy vì vậy đều gắng sức chiến đấu vì đã “hòa nước sông chén rượu ngọt ngào”.

Một tích khác, Ngô Khởi nổi tiếng là người khéo léo dùng binh. Có một người lính bị một cái nhọt đang mưng mủ, Ngô Khởi ghé mồm vào nhọt mút máu mủ. Người lính có nhọt cảm động trước hành động của Ngô Khởi, càng ra sức chiến đấu vì chủ tướng.

Trần Quốc Tuấn hiểu một cách sâu sắc rằng, không tranh thủ được sự đồng tình của tướng sĩ thì không thể động viên tướng sĩ đánh giặc được. Theo sử cũ, Yết Kiêu, Dã Tượng là gia nô của Trần Quốc Tuấn, Phạm Ngũ Lão là gia khách của ông. Yết Kiêu, Dã Tượng cũng như Phạm Ngũ Lão đều hăng hái chiến đấu ở các chiến trường và đã lập được nhiều chiến công to lớn. Họ đã vì Trần Quốc Tuấn mà quên mình chiến đấu. Một phần là vì tinh thần yêu nước, nhưng một phần khác, vì họ được Trần Quốc Tuấn đãi ngộ như cha với con.

Trần Quốc Tuấn biết rằng, sự đãi ngộ tốt với tướng sĩ là điều kiện hết sức quan trọng để động viên tướng sĩ hăng hái đánh giặc. Trong “Binh thư yếu lược”, ông viết: “Cho nên quân sĩ có cái vui mổ trâu, nấu rượu, cái khí thế ném đá vượt rào, họ yêu mến tướng như con em yêu mến cha anh, như chân tay giữ gìn đầu mắt, không ai có thể ngăn nổi họ. Nếu đối xử khắt khe làm cho họ đau khổ, bắt họ làm những công việc quá nặng nhọc, thì tiếng oán thù không nghe sao cho hết. Tướng mà coi quân sĩ như cỏ rác, thì quân sĩ coi tướng như cừu thù. Mong cho họ sung vào hàng ngũ cũng còn khó, còn mong gì họ gắng sức đánh giặc nữa. Đó là chước lớn của tướng soái để vỗ về quân sĩ vậy”.

Theo ông, hành động của người làm tướng có tác dụng động viên quân sĩ. Muốn động viên được quân sĩ, người làm tướng phải làm gương cho quân sĩ. Đạo làm tướng, theo Trần Quốc Tuấn có tám điều cần phải tránh là: 1. Lòng tham không đáy; 2. Giết người hiền, ghen kẻ tài; 3. Tin lời gièm, ưa lời nịnh; 4. Biết người mà không biết mình; 5. Do dự, không quả quyết; 6. Hoang dâm tửu sắc; 7. Dối trá mà lòng thì nhát sợ; 8. Nói bậy mà không giữ lễ độ (Binh thư yếu lược).

Trần Quốc Tuấn còn viết: “Hòa mục là một công hiệu rất lớn cho cuộc trị an. Hòa ở trong nước thì ít có nạn binh đao; hòa ở ngoài biên thì có báo động cũng không sợ; bất đắc dĩ mới phải phạt kẻ làm bậy. Vua tôi hòa mục thì dùng được người tài; các tướng văn võ hòa mục thì làm nên công nghiệp lớn. Tướng sĩ hòa mục khi được ban thưởng sẽ nhường nhịn nhau, nguy nan sẽ cứu nhau. Do đó, hòa mục là một điều rất hay cho cuộc trị nước, hành quân, không bao giờ đổi được”.

Tư tưởng nhân nghĩa được Trần Quốc Tuấn luôn coi trọng và đề cao. Ông viết: “Khí lượng, không ai giống ai. Tướng nào giấu điều gian, che tai họa, không nghĩ đến sự oán hận của mọi người, tướng ấy chỉ huy được mười người. Tướng nào thức khuya dậy sớm, nói năng kín đáo, tướng ấy chỉ huy được một trăm người. Tướng nào thẳng thắn, biết lo lắng, mạnh mà biết chiến đấu, tướng ấy chỉ huy được một nghìn người. Tướng nào bên ngoài thẳng thắn, bên trong hăng hái, biết đến sự khó nhọc của người khác, thương kẻ đói rét, tướng ấy chỉ huy được một vạn người. Tướng nào gần người hiền, biết tiến cử kẻ có tài, lúc nào cũng thận trọng, thành tín, rộng lượng, giỏi việc dẹp loạn, tướng ấy chỉ huy được mười vạn người. Tướng nào dùng nhân ái đối với kẻ dưới, lấy tín nghĩa để phục nước láng giềng, trên biết thiên văn, dưới hiểu địa lý, giữa hiểu việc người, coi bốn biển như một nhà, đó là tướng của toàn thiên hạ, không ai địch nổi”.

Ở đây, tác giả “Binh thư yếu lược” đã vượt hẳn tầm một viên tướng tổng chỉ huy, mà trở thành một nhân vật có tài kinh bang thế tế, một nhà chính trị lớn.

Tấm lòng yêu thương tướng sĩ của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, xét cho cùng cũng xuất phát từ lòng yêu nhân dân của ông. Quân sĩ là con em của nhân dân, từ nhân dân mà ra. Do vậy, ông được tướng sĩ và nhân dân ủng hộ. Nhờ vậy mà cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông thời nhà Trần trở thành cuộc kháng chiến của toàn dân. Và cuộc chiến tranh ấy, sở dĩ trở thành cuộc chiến tranh nhân dân, một phần rất quan trọng là vì các vị vua nhà Trần đã thống nhất áp dụng chiến lược của Trần Quốc Tuấn: Chiến lược nuôi sức dân, dựa vào dân mà đánh giặc và thắng giặc.

Đặng Việt Thủy

Bình luận

ZALO