Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Thứ năm, 29/07/2021 03:25 GMT+7

Suối Đăk Mế trong kháng chiến chống Mỹ

Biên phòng - Suối Đăk Mế từ biên giới Việt - Lào ngang qua Đồn BPCK quốc tế Bờ Y, vòng về ôm thôn Đăk Mế của đồng bào dân tộc Brâu tại xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum.

z0in_9
Suối Đăk Mế vẫn ngày đêm lặng lẽ uốn mình vòng quanh các plei thanh bình của bà con K'dong, Brâu, Việt, Mường. Ảnh: Vân Anh

Chiến tranh đã qua, núi rừng bình yên xanh như chưa từng qua cơn binh lửa. Suối Đăk Mế vẫn ngày đêm lặng lẽ uốn mình vòng quanh các plei (làng xóm) thanh bình của bà con K'dong, Brâu, Việt, Mường... rồi nhập về sông Pô Kô. Nơi đây không còn cảnh tiêu sơ ngày cũ mà luôn xanh tươi mướt mát những nương ngô, bãi mía, những ruộng vườn trù phú của cư dân sở tại. Nhìn con suối nhỏ, ít ai biết được rằng, cách đây gần nửa thế kỷ, trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đây là "con đường thủy vận" độc đáo có một không hai đã góp phần vận chuyển thương, bệnh binh và quân nhu, tạo nên những thành tích to lớn của Bệnh viện Quân y 211 trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Trong nhật ký Tây Nguyên ngày ấy của Giáo sư - bác sĩ Lê Cao Đài, nguyên Viện trưởng Viện 211 thời đánh Mỹ, có những nhận định lý thú về suối Đăk Mế:

"Con sông Đăk Mế chảy ngoằn ngoèo từ nơi ở cũ đến chỗ ở mới cứ ám ảnh tôi. Ở Tây Nguyên, cho tới nay, chưa đơn vị nào khai phá, sử dụng con sông này vào công tác vận chuyển. Mấy tháng trước, khi Bệnh viện di chuyển từ Khu A vào Khu B ở đoạn trên của con sông, tôi đã đề xuất việc vận chuyển trên sông"...

Việc đề xuất được chấp thuận. Thế là chuyến đi thử đầu tiên: "Chiều ngày 26 tháng 10 năm 1970 khởi hành đi chuyến đầu trên sông (...). Nước chảy cuồn cuộn cuốn bè đi nhanh, thỉnh thoảng có thác nước nhảy tung tóe (...). Con sông thực ra chỉ là một con suối rộng chừng hơn chục mét, cây cối hai bên bờ rủ xuống che kín bầu trời. Con sông kẹp giữa hai vách núi cao, có cảm giác như đang ở dưới đáy một công sự khổng lồ với hai dãy núi bên trên. Chúng tôi tương đối yên tâm vì tầm quan sát của máy bay địch trên cao sẽ bị hạn chế. Bốn bè đi đầu an toàn. Chiếc bè đi cuối do đồng chí Lai đẩy, qua cây gỗ đầu tiên bị ụp. Đồ đạc trên bè rơi hết xuống sông. Các bè đi trước phải neo lại cạnh bờ. Mọi người lội ngược lên giúp lật lại bè, vớt đồ đạc lên bè để đi tiếp. Một giờ chiều, 4 bè đi đầu đã xuống bến an toàn. Như vậy, quãng đường bình thường đi bộ phải mất 2 ngày, thì nay đi bè chỉ mất 5 tiếng, rất nhẹ nhàng...".

Sau khi "rút kinh nghiệm" từ những chuyến bè thử nghiệm, tiếp theo là những "chuyến bè bão táp": "Ngày 17 tháng 11, chuyển toàn Viện vào Khu Đ. Tôi vào cùng với anh Mẫn Chính ủy. Phải ra nương chuẩn bị bè để đi. Đoàn bè 3 chiếc lên đường. Tôi đi bè đầu, anh Mẫn đi bè cuối (...). Nước chảy mạnh đẩy bè đi khá nhanh. Mọi người vui vẻ ngồi xổm trên bè nhìn cây cối hai bên bờ lui vun vút về phía sau. Mới đi được nửa giờ thì gặp một cây gỗ mới chặt được một nửa, còn một nửa thò ra giữa sông, chiếc bè chạm vào cây gỗ, từ từ xoay ngang, rồi lật nghiêng như một chiếc sa đánh cá của đồng bào, hất mọi người trên bè cùng với đồ đạc xuống nước. Nước sông chảy cuồn cuộn đẩy chiếc bè ép chặt vào cây gỗ làm các thanh nứa của bè rung lên bần bật. Mọi người lóp ngóp trèo lên cây gỗ. Đồ đạc mang theo (...) mặc dầu gói trong ni lông vẫn bị ướt sạch (...). Trong khi lúi húi vớt đồ đạc thì chiếc thứ hai lao vù vù tới. Chúng tôi vẫy tay la hét rối rít để báo cho anh em biết bè đi trước gặp nạn. Lái bè luống cuống đẩy bè vào bờ, nhưng cái bè đã xoay ngang úp sấp, lật hai anh lái xuống nước, rồi không hiểu sao bè lại lật ngửa lên lại được! Chiếc bè thứ ba vun vút lao tới. Giống như hai bè đầu, chiếc bè xoay ngang rồi lật nghiêng, các bao tải trên bè rơi xuống sông trôi lềnh bềnh".

Vì quá nguy hiểm như vậy nên cấp trên có lệnh đình chỉ việc vận chuyển trên sông Đăk Mế, khiến nhiều người rất lo lắng và sốt ruột trong việc cứu chữa thương, bệnh binh của Bệnh viện 211. Tuy nhiên, thực tế chiến trường đã không thể có cách nào khác hơn nữa: "Sau khi Khoa 32 thay cho Đội Điều trị 3, có tin báo về cho chúng tôi biết, công việc đang rất bê bối, thương binh ứ đọng nhiều, Khoa xin lực lượng chi viện, đặc biệt xin chuyển bớt thương binh về Viện (...). Rõ ràng không thể để tình hình kéo dài. Phải cấp tốc chuyển bớt thương, bệnh binh về Viện. Nhưng lấy đâu ra lực lượng vận chuyển? (...). Tôi lại nghĩ đến con sông Đăk Mế đang chảy ào ào sát đội phẫu".

Một lần nữa, suối Đăk Mế được nhắc trở lại trong "tư duy chiến thuật" của vị Viện trưởng đầy tâm huyết và trách nhiệm. Thế là bác sĩ Lê Cao Đài lại ra sức thuyết phục cấp trên cho Bệnh viện tiếp tục dùng suối Đăk Mế làm đường thủy vận: "...Về tới nhà, nhận được tin mừng: Việc chuyển thương bằng bè từ Khoa 32 về Viện đã được thực hiện. Các cây đổ trên sông đã được dọn sạch. Chuyến bè đầu tiên gồm 5 chiếc chở 60 thương, bệnh binh đã về tới Viện an toàn. Anh em rất phấn khởi vì đi rất êm, ngồi bè thật thoải mái, chỉ mất 2 ngày là về đến Viện, mặc dù phải "tăng-bo" một chỗ có thác đổ từ trên cao xuống. Như vậy, chúng tôi đã kéo dài được việc vận chuyển trên sông thêm một ngày đường phía thượng nguồn sông Đăk Mế"...

Những lược trích ngắn ở trên chưa thể hiện hết sự gian truân của con đường "thủy vận" Đăk Mế, song qua sự kiện này có thể giúp bạn đọc "phát hiện" thêm một sự kiện độc đáo trên đất Kon Tum và khâm phục tài trí và tâm lực của thế hệ tiền bối trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trước đây.

Tạ Văn Sỹ

Bình luận

ZALO