Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Thứ ba, 01/12/2020 04:41 GMT+7

Sức sống nơi quê mới Nậm Tăm

Biên phòng - Lòng hồ thủy điện Sơn La thuộc khu vực xã Nậm Tăm, huyện Sìn Hồ, Lai Châu những ngày giữa hạ, nước xanh thăm thẳm. Trong ráng chiều, những chiếc thuyền xuôi ngược giữa mênh mông sóng nước, tạo nên một bức tranh sơn thủy hữu tình đẹp đến nao lòng. Tọa lạc ven hồ, những căn nhà tái định cư năm nào ở các bản Nậm Ngập, Phiêng Lót, Pậu… giờ đây đã nhuộm màu thời gian, cây xanh đã vươn lên, bao phủ cả vùng quê mới.

94mf_11
Lúa nước vẫn đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Nậm Tăm. Ảnh: Lê Thị Hải Lưu

Có sức người, sỏi đá cũng thành cơm

Cách đây 8 năm, để phục vụ cho công trình thủy điện Sơn La, ở huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu có hơn 2.400 hộ ở 49 bản thuộc 9 xã phải di dời về 27 điểm tái định cư, trong đó, xã Nậm Tăm có 6/14 bản thuộc diện này. Rời bản cũ nhường chỗ cho lòng hồ thủy điện dâng nước, trong bụng nhiều người dân Nậm Tăm còn bao nỗi phân vân về cuộc sống mới ở nơi lạ nước, lạ cái. Sự lo lắng như được nhân lên khi hệ thống kết cấu hạ tầng, nhất là giao thông ở nơi tái định cư chưa xây dựng kịp, công tác quy hoạch, bố trí dân chuyển đến nơi ở mới gặp nhiều khó khăn. Nhưng rồi, mọi trắc trở ban đầu cũng qua đi, sau khi cắm mốc phân lô, đại diện các gia đình bốc số thứ tự, công việc "khai thiên lập địa" được người dân bắt đầu với tay dao, tay cuốc.

"Nghe kể chuyện thủa ban đầu bồng bế nhau đến đây lập nghiệp thấy có vẻ đơn giản, nhưng không hề dễ đâu. Những kỹ sư, nhà khoa học tài giỏi bắt lòng sông để làm thủy điện đã khó, việc vận động đồng bào đồng thuận di dân còn khó hơn nhiều đấy. Có rất nhiều khó khăn, gian khổ khi mới bắt tay vào xây dựng cuộc sống ở vùng quê mới, nhưng với sự giúp đỡ của người dân địa phương cũng như sự quan tâm của Nhà nước, chúng tôi kiên trì bám trụ và đã vượt qua thách thức" - ông Tao Văn Cầm, nhà ở bản tái định cư Phiêng Lót chia sẻ với chúng tôi về ý chí của người dân Phiêng Lót trên hành trình rời nơi chôn rau cắt rốn để đến khởi nghiệp ở vùng đất mới.

Cũng như ông Cầm, ông Tao Văn Lả, Trưởng bản tái định cư Nậm Ngập nhớ như in những ngày đầu dân ở vùng lòng hồ thủy điện bắt đầu đặt chân lên địa bàn, bắt tay vào việc chuẩn bị nơi ăn chốn ở, ổn định sản xuất. "Khi ấy, nhằm giúp đồng bào thông cái bụng, yên tâm xây dựng cuộc sống nơi quê mới, cán bộ của tỉnh, của huyện được tăng cường về để tuyên truyền, vận động và hướng dẫn bà con cách thức làm ăn. Cũng vì đa phần đồng bào tái định cư là người dân tộc thiểu số, gắn bó với bản cũ, với phong tục tập quán đã nhiều đời, bây giờ phải từ bỏ quê hương bản quán thực sự là một thách thức không nhỏ..." - ông Lả cho chúng tôi biết.

Theo ông Lả, giờ đã qua cái giai đoạn khổ ải ban đầu nên nói dễ thế, chứ ngoái lại mới ngấm cái cực, cái khổ của những người tái định cư. Cũng vì dòng điện quốc gia mà phải di chuyển lên nơi khốn khó trăm bề, nhưng có trải qua gian khó mới thấy sức dân mạnh thế nào. Đất trồng lúa thì do mới được khai hóa, kém màu mỡ, đất nương thì sỏi đá. Đấy là chưa kể đến thói quen làm nương, làm ruộng bậc thang đã in vào đầu đồng bào từ bao đời nay, bây giờ đất sản xuất có hạn, lại một bề mênh mông nước lòng hồ, nhiều người không khỏi bỡ ngỡ và lo lắng cho tương lai.

Thế rồi, "có sức người, sỏi đá cũng thành cơm", đất không phụ lòng người nên cuộc sống ngày một tốt dần lên. "Sống ở nơi ở cũ còn có lúc đói cơm lạt muối, chứ bây giờ chuyện sinh hoạt được cải thiện rất nhiều do cái thế "cận giang" có thêm con tôm, con cá. Cả bản Nậm Ngập bây giờ toàn nhà kiên cố, có đường bê tông đến tận ngõ. Cuộc sống như thế là thỏa nguyện lắm rồi…" - ông Lả bày tỏ niềm vui với chúng tôi.

"Cái được" của nông thôn mới

Vui vẻ nhận lời trước đề nghị của nhà báo đến từ miền xuôi nhờ dẫn đi xem "cái nông thôn mới" ở bản Pậu, nơi gia đình mình có một ngôi nhà khang trang, bề thế, chị Tao Thị Hân đưa chúng tôi đi một vòng tham quan bản. Vừa đi, chị vừa khoe với tâm trạng đầy phấn khích, rằng 8 năm trước, vợ chồng, con cái rời bản làng mà cả nhà đã gắn bó bao năm để đến quê hương mới với biết bao lo lắng. Thế rồi, theo thời gian, mọi thứ tốt dần lên.

"Nghĩ đi nghĩ lại, thấy mình may mắn. Chả biết nếu vẫn cứ bám ở bản cũ, đến bao giờ vợ chồng mình mới làm nổi ngôi nhà to đẹp như ở nơi tái định cư. Bây giờ, hai vợ chồng không còn lo chuyện gì khác ngoài việc trồng ngô, sắn, nuôi con lợn, con gà để phát triển kinh tế gia đình, nuôi con cái ăn học nên người" - chị Tao Thị Hân nói, vẻ mãn nguyện.  

8j3q_11a
Trẻ em ở Nậm Tăm đang được hưởng một nền giáo dục đầy đủ và tốt đẹp. Ảnh: Lê Thị Hải Lưu

Chị Hân tự hào là phải, bởi theo ông Tao Văn Thòn, nhà ở bản Nậm Ngập, sự thay đổi ở xã Nậm Tăm hiện đang theo nhiều hướng, nhưng cái được lớn nhất vẫn là "điện, đường, trường, trạm", trình độ dân trí được nâng cao, trẻ em được học hành đầy đủ, phương thức sản xuất ngày càng tiến bộ, người dân chăm lo phát triển kinh tế.

"Chung quy lại, cái được lớn nhất vẫn là nông thôn mới. Cách thức làm ăn thay đổi theo lối mới, khiến người ta không còn đủng đỉnh theo kiểu "được chăng hay chớ" như trước đây. Do đã quen với việc chăn nuôi lợn, gà thả rông và làm nương rẫy theo kiểu truyền thống nên khi chuyển về nơi ở mới sinh sống gần mặt hồ, các gia đình chưa thể quen ngay với môi trường sống mới. Quen rồi thấy nhàn hơn trước, lại có thêm khoản thu nhập đáng kể từ nghề thả lưới, cất vó, đánh bắt tôm, cá…" - ông Thòn bày tỏ.

Cứ theo tiết lộ của ông Thòn, chị Hân thì, ngoài việc ruộng nương, chăn nuôi gia súc, gia cầm, người dân ở Nậm Tăm bây giờ còn có thêm nghề đánh bắt thủy sản trên hồ thủy điện. Trung bình mỗi ngày, họ có thể bỏ túi từ dăm bảy chục đến vài trăm nghìn đồng, tùy theo "độ chuyên". Nhờ chịu thương, chịu khó, lại được hưởng nhiều chính sách ưu đãi của Nhà nước nên hầu hết các hộ tái định cư ở Nậm Tăm đều đã trở nên khá giả, không còn thiếu đói như ngày trước.

"Chuyện khó, chuyện khổ ngày xưa giờ đã thành quá khứ rồi" - ông Cà Văn Nguyên, Chủ tịch UBND xã Nậm Tăm trải lòng với chúng tôi. Theo ông Nguyên, giờ cuộc sống bà con các dân tộc ở Nậm Tăm đã khá lên thấy rõ, thu nhập bình quân đầu người đạt 12,5 triệu đồng/người/năm, tỷ lệ hộ nghèo của xã chỉ còn dưới 18%. Vui nhất là sau 5 năm triển khai xây dựng nông thôn mới, xã đã huy động nguồn lực từ dân để thi công hệ thống đường giao thông liên bản với chiều dài gần 30km.

Thêm những "cái được" khác có thể nhìn thấy rất rõ là, toàn bộ hệ thống kênh mương nội đồng trên địa bàn xã đã được kiên cố hóa, 5 trường học, ở hai cấp trung học cơ sở và tiểu học được xây dựng khang trang, 9/14 bản có nhà văn hóa, đặc biệt, hơn 90% dân số của xã là đồng bào dân tộc thiểu số đã có bảo hiểm y tế… Tất cả các con số này chứng tỏ, "cái được" ở đây chính là do "nông thôn mới" đem lại, cao hơn là sự thích nghi, tiến bộ đang diễn ra hàng ngày…

…Chúng tôi rời Nậm Tăm khi những vạt nắng cuối chiều hạ xiên chéo xuống vô vàn gợn sóng lăn tăn dưới lòng hồ thủy điện. Phía xa, những con thuyền gỗ, bè luồng vẫn dập dềnh trôi theo tay lưới của cư dân vùng tái định cư. Hình ảnh thanh bình này gợi cho mỗi người chúng tôi nhớ đến câu nói của Trưởng bản Nậm Ngập, Tao Văn Lả, đại ý là, cuộc di dân phục vụ công trình thủy điện hóa ra lại là cơ hội tốt để người Lự, người Thái, người Mông ở Sìn Hồ chuyển đổi cơ cấu vật nuôi, cây trồng và tiếp cận cách khởi nghiệp, làm giàu mới. Cách đây 8 năm, dân lòng hồ vì dòng điện của Tổ quốc ra đi, cho đến bây giờ, hồ thủy điện bù đắp lại cho họ bằng dòng nước tưới mát ruộng đồng, bằng mớ cá, mớ tôm để nâng cao đời sống. Phải chăng, đó cũng là cách ghi nhận sự hy sinh của người Nậm Tăm?...

Lê Thị Hải Lưu

Bình luận

ZALO