Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Thứ tư, 14/04/2021 02:42 GMT+7

Sức sống mới ở Nghĩa Sơn

Biên phòng - Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, người Khơ Mú ở Nghĩa Sơn (Văn Chấn, Yên Bái) bị chế độ thực dân và phong kiến ngược đãi, săn đuổi, tận diệt, chỉ còn 300 người đói nghèo xơ xác, sống chui lủi trong những căn lều tạm bợ bên dòng "Nậm Tộc".

b6h2_14
Chọc lỗ tra hạt trong lễ hội cầu mùa ở Văn Chấn. Ảnh: Trần Vân Hạc

Bây giờ, người già vẫn kể cho con cháu nghe chuyện xưa để lớp trẻ không quên nỗi khổ cực của một thời tăm tối: Thuở ấy, người Khơ Mú phải đi làm thuê, làm mướn và là nô lệ cho các dân tộc khác. Mỗi khi nhà lang tạo có đám ma, người Khơ Mú phải ngồi dưới quan tài canh ma cà rồng, rồi còn phải thay nhau ngày đêm canh mả không cho ma cà rồng bới xác... Nếu không có Đảng, Bác Hồ chắc chắn người Khơ Mú ở Nghĩa Sơn sẽ bị tuyệt chủng. Sức sống của những hậu duệ người anh hùng dân tộc Tạo Lả Xanh và những nghĩa binh tham gia cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Quang Bích, được mùa xuân cách mạng thổi hồn vụt đâm chồi mơn mởn xanh tươi.

Mấy chục năm trôi qua, đến nay, xã Nghĩa Sơn đã có 1.536 khẩu, gồm 5 dân tộc anh em cùng sinh sống ở 6 thôn bản, trong đó, dân tộc Khơ Mú chiếm tới 72,9%. Đường ô tô tới từng bản nhỏ trong xã, tất cả được xây dựng bằng nguồn vốn của Ngân hàng Thế giới (WB), dự án chia sẻ và Chương trình 135 của Chính phủ. Ngày trước, người Khơ Mú ở Nghĩa Sơn chỉ quen với việc làm nương rẫy, phụ thuộc và bị động với thời tiết, thì nay đã chủ động trong tưới tiêu và canh tác lúa nước. Tổng sản lượng lương thực có hạt đạt 641,9 tấn, trong đó, tổng sản lượng lúa là 467 tấn, năng suất bình quân đạt 58,4 tạ/ha; tổng sản lượng ngô là 174,9 tấn, năng suất đạt 33 tạ/ha... Thu nhập bình quân đầu người là 8,5 triệu đồng/năm.

Nghĩa Sơn là xã đi đầu trong việc giao đất, giao rừng. Diện tích rừng tái sinh của xã là 115ha, rừng phòng hộ là 41ha, góp phần làm tốt công tác bảo vệ và phòng cháy chữa cháy. Hiện nay, 6/6 thôn bản trong xã đã thành lập tổ, phòng cháy chữa cháy rừng. Ngay từ đầu năm, xã đã triển khai cho nhân dân học tập ký cam kết quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, thực hiện tốt công tác phòng cháy, chữa cháy rừng, không để xảy ra cháy rừng. Phương thức sản xuất mới không chỉ góp phần quan trọng trong việc xóa đói giảm nghèo, mà còn góp phần thay đổi cách nghĩ, cách làm và nếp sống của bà con.

  Công tác giáo dục đã có sự chuyển biến tích cực về cả số lượng lẫn chất lượng. Hiện nay, toàn xã có 2 trường tiểu học và trung học cơ sở, với 13 lớp, 234 học sinh, trường mầm non có 5 lớp với 104 trẻ, tỷ lệ huy động trẻ trong độ tuổi đi học đạt 100%, tỷ lệ trẻ 5 tuổi đi học mẫu giáo đạt 100%, tỷ lệ học sinh trung học cơ sở đi học đúng độ tuổi đạt 96,1%, tỷ lệ học sinh hoàn thành chương trình tiểu học và trung học cơ sở đạt 100%.

Hiện nay, xã Nghĩa Sơn có hơn 20 em tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và đang công tác tại các cơ quan trong tỉnh, huyện. Trạm xá xã được xây dựng và đầu tư với đội ngũ cán bộ y tế đến trang thiết bị y tế đủ năng lực phục vụ nhân dân trong xã khám, chữa bệnh, phòng chống dịch. Bà con tin tưởng và đã đến trạm xá mỗi khi đau ốm thay cho việc cúng ma xưa kia. Cùng với phát triển kinh tế, văn hóa, UBND xã rất chú trọng đến công tác an ninh, quốc phòng, dân tộc và tôn giáo, y tế, dân số và kế hoạch hóa gia đình... Qua đó, không chỉ mức sống của người dân ngày một tăng, mà còn tạo mối đoàn kết, phát huy sức mạnh toàn dân trên mọi lĩnh vực. 

Nghĩa Sơn thay da đổi thịt từng ngày, mức sống của người dân Nghĩa Sơn  ngày một nâng cao về cả vật chất và tinh thần. Điện lưới quốc gia thắp sáng đất Nghĩa Sơn, nhiều gia đình có ti vi, xe máy, hơn 90% số hộ dân được xem truyền hình và nghe đài phát thanh... Đội văn nghệ xã hoạt động tích cực, nhiều lễ hội, tiết mục văn nghệ cổ truyền được khôi phục như "Lễ đón mẹ lúa", "Hội mừng mùa măng mọc", "Múa chiêng", "Tăng bu", "Tăng bẳng", "Xé cắp"...

Đến Nghĩa Sơn hôm nay, chúng tôi được hòa mình trong nhịp trống chiêng và cuốn vào vũ điệu chọc lỗ tra hạt, tôn vinh cây lúa và sức lao động sáng tạo của con người trong lễ hội "cầu mùa". Từ xa xưa, khi còn sống du canh du cư, chiếc gậy chọc lỗ tra hạt là công cụ không thể thiếu của người Khơ Mú. Có lẽ, cuộc sống muôn sắc màu, đầy những âm thanh tuyệt diệu của tự nhiên đã tạo cảm hứng cho những nghệ nhân dân gian sáng tạo nên chiếc gậy chọc lỗ tra hạt độc đáo: Vừa là công cụ lao động, vừa là nhạc cụ đem lại những phút giây thư giãn trong trẻo trong quá trình lao động. Chiếc gậy chọc lỗ tra hạt này làm bằng gỗ cứng, dài từ 1,8 đến 2m, đẽo nhọn ở đầu, có khi còn được bịt sắt. Gậy này có ba phần, phần đầu làm bằng gỗ cứng, phần thân thường bằng tre và phần cuối  được gắn với các nhạc cụ được chế tác đơn giản như ống tre, nứa nhỏ cho những viên sỏi vào trong. Khi chọc lỗ, âm thanh dội lên ở phần thân bằng tre như một hộp cộng hưởng, những viên sỏi va đập vào ống tre, nứa tạo nên những âm thanh trầm, bổng tươi vui, rộn rã giữa non ngàn.

Người Khơ Mú làm nương theo lối đổi công, có thể là một nhóm, có khi cả bản cùng làm. Đàn ông khỏe mạnh dàn hàng ngang đi trước, vừa nhún nhẩy, vừa vung gậy chọc lỗ tra hạt, những âm thanh như đánh thức đất trời, khích lệ những người tham gia lao động. Các cô gái theo sau nhịp nhàng vung tay gieo những hạt lúa giống vào lỗ, chân gạt nhẹ lấp đất. Tất cả đều nhịp nhàng uyển chuyển, hài hòa, những tiếng cười vang xa mấy cánh rừng, bao nỗi mệt nhọc tan biến. Sau mỗi mùa vụ, nhiều đôi nam nữ Khơ Mú nên vợ nên chồng. Mỗi độ xuân về, người Khơ Mú ở Nghĩa Sơn đều tổ chức lễ hội "Cầu mùa" và vũ điệu chọc lỗ tra hạt tưng bừng rộn rã như sự giao hòa âm dương, thức dậy những khát vọng về một cuộc sống ấm no hạnh phúc.

Trần Vân Hạc

Bình luận

ZALO