Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Thứ hai, 18/10/2021 03:22 GMT+7

Sức bật bản ven sông

Biên phòng - Đồng bào các dân tộc Tây Bắc thường hay nói: “Người Xá (Khơ Mú) ăn theo lửa, người Thái ăn theo nước, người Mông ăn theo mây mù...” để chỉ về địa lí phân bố tự nhiên của các dân tộc. Sau một thời gian nhường vùng đất cũ cho công trình thủy điện Sơn La, chuyển về tái định cư ở những bản ven sông thuộc các xã Tủa Thàng, Huổi Só, huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên, bà con nơi đây đang ngày một giàu lên từ nguồn lợi mà dòng sông Đà mang lại. Không những thế, đầu tháng 12 năm ngoái, phiên chợ đầu tiên của chợ phiên cụm xã Huổi Só, ven sông thuộc điểm bản tái định cư Huổi Lóng bắt đầu đi vào hoạt động, tạo thêm nhiều cơ hội giao thương cho các điểm bản ven sông trong vùng.

 45510b.gif
Một góc bến cá Huổi Lóng.
Cơ hội từ lòng vó

Tảng sáng, trời đất như còn ngái ngủ, chúng tôi - những vị khách phương xa vượt hơn 600 cây số về thăm Huổi Trẳng, xã Tủa Thàng. Cái lạnh men mén đầu xuân lùa vào màn khiến mọi người chỉ muốn cuộn mình trong chăn đánh thêm một giấc đã đời, bù lại một ngày đi đường mệt oải. Lại chợt nhớ lời Trưởng bản Quàng Văn Tấn dặn dò: “Muốn xem chợ cá thì phải dậy sớm. Bà con đổ về bến sông họp chợ từ khi sương còn nhọ mặt người đấy”. Vậy là chúng tôi vội vàng đi, mặc cho gió sông Đà thốc lên lạnh buốt.

Hình như chúng tôi là những người có mặt sau cùng của phiên chợ. Bà con các dân tộc Thái, Dao, Khơ Mú đã nô nức cho thuyền cập bến. Cảm giác đầu tiên của tôi là bến cá nơi đây đã bắt đầu mang dáng dấp một “thương cảng” sầm uất. Loang loáng trước mắt tôi là cá với đủ loại thuộc danh mục những loài cá sinh sống trên sông Đà. Những con cá chép môi đỏ, vảy xanh biếc; đám cá măng thuôn dài ánh ướt; còn loại cá râu cuộn vểnh hùng dũng chính thị cá lăng. Dưới lòng thuyền là cá nhỏ, cá tạp như chày, mương... Còn cá to thì được “ưu tiên” hơn là đựng vào sọt, nồi quân dụng có trang bị những ống khí “sục” ôxi để cá sống được lâu. Những sọt cá đầy nặng như thế được nâng bổng trên vai ngư phủ bằng những đòn xóc tre dẻo dai và chuyển lên bờ trong không khí bán mua tấp nập. Khi đã chuyển hết cá, những chiếc thuyền buộc neo, thảnh thơi bập bềnh theo sóng nước. Chủ nhân của chúng lần lượt trở về bản nghỉ ngơi bên bếp lửa.

Chừng nửa tiếng sau, lại có thêm xuồng cập bến. Nụ cười rạng rỡ của những ngư dân trên thuyền báo hiệu sự “thắng đậm” của bạn chài qua một đêm dầm mình trong buốt giá giăng vó đánh bắt cá sông. Liềm Văn Chải, một chủ xuồng vừa cập bến, bước vào căn chòi cất trên bè tre của anh trai Liềm Văn Hưng, uống cạn cốc nước chè nóng đặc sánh rồi hồ hởi kể về những mẻ lưới đêm qua. Hóa ra, phương thức đánh bắt của những ngư dân nơi cuối trời Tây Bắc này đơn giản hơn người ta tưởng rất nhiều. Ba hộ chung nhau đầu tư một chiếc vó, mà người dân nơi đây gọi là vó tời, ước tính có giá gần 10 triệu đồng. Vó có khung, gọng bằng tre, với diện tích 400-500m2, dìm sâu 9-10m dưới mặt nước, một bộ tời quay tay, bình ắc quy, bóng điện. Khi bóng tối buông dày trên mặt nước, bóng điện sẽ được thắp sáng lung linh giữa vó.

Nguồn sáng ấy có sức hấp dẫn các loại cá lại gần, đồng thời hấp dẫn cả các loại côn trùng tụ đến rồi rơi xuống nước trở thành mồi tự nhiên cho cá. Khi áng khoảng vó đã khẳm, người ta hò nhau quay tời cất vó lên khỏi mặt sông. Mỗi đêm như vậy, trung bình mỗi vó đánh bắt được vài chục ki-lô-gam cá. Có đêm trúng đậm, thu được cả tạ cá.

Lò Văn Yêu, một chủ thuyền chuyên chở khách qua sông ở Huổi Trẳng nhận lời đưa chúng tôi đi thăm những vó bè của bà con dân bản. Đây là phương tiện chủ công để người dân Huổi Trẳng khai thác nguồn lợi thủy sản sông Đà. Kinh tế nhiều hộ đã trở nên khá giả nhờ chiếc vó này. Chiếc thuyền sắt chở chúng tôi là khoản đầu tư đang sinh lãi của Yêu, cũng như một vài gia đình khác làm nghề này. Với mỗi lượt khách sang sông, anh Yêu thu 50 ngàn đồng. Mỗi tháng, con thuyền này cũng mang lại cho gia đình anh khoảng 3 triệu đồng. Lại thêm khoản thu từ vó bè hàng đêm nữa thì anh thực sự đang dần ổn định cuộc sống mới và giàu lên trên sóng nước sông Đà.

Thuyền chạy tới gần núi Pú Sung như đi giữa mênh mang yên ả một màu lục thủy. Trước đây, vùng đất này là những ghềnh xoáy dữ dội của con sông Đà khi đổ nước về xuôi. Từ ngày hồ thủy điện Sơn La tích nước, đoạn sông này trở nên thơ mộng và khoáng đạt như một “vịnh Hạ Long” trên núi vậy. Lò Văn Yêu chỉ tay vào vòng xoáy trước mui thuyền, bảo, dưới chân các anh chị là bản Pắc Na của chúng tôi ngày xưa đấy. Nhìn dòng nước thẳm sâu, tôi chợt nhớ đến câu chuyện già bản Lò Văn Sắt đã kể về cuộc chuyển cư của hơn 200 nóc nhà dân bản Pắc Na. Về Huổi Trẳng, già cho rằng, mình may mắn vì chỉ phải di vén lên cao, vẫn được ở gần quê hương, bản quán và vẫn được sống cuộc sống sông nước bên sông Đà.

Sức bật trên đất mới

Đón chúng tôi trở về từ lòng hồ là chén rượu được hâm nóng, cùng đĩa tôm sông đỏ au trên vó bè của anh Phàm A Hy ở bản Thôn 1, xã Huổi Só. Qua lời anh kể, trước đây, khi nước sông Đà chưa dâng, đoạn sông này chỉ là một dòng suối nhỏ, cung cấp nước sinh hoạt, tưới tiêu cho cả bản Pa Phông. Nhưng bây giờ thì khác nhiều rồi, từ khi nước ngập, tôm cá theo dòng về nhiều. Gia đình anh cùng 6 hộ trong bản Thôn 1 đã đầu tư chung để làm vó bè, mua lưới đánh bắt cá.

Đỉnh điểm, có những đêm vó bè của anh thu về hơn 1 tạ cá, tôm các loại. Sau khi bán, trừ chi phí thì mỗi hộ cũng có 600 ngàn đồng, hôm nào ít, mỗi đêm cũng kiếm được khoảng 200 ngàn đồng, cao hơn nhiều so với trồng lúa, ngô. Khai thác lợi thế bản ven sông, người dân ở thôn anh còn đóng xuồng phục vụ công việc thả lưới, vận chuyển hàng hóa. Hai thôn 1 và 2 ước tính phải có đến 70 xuồng sắt và gần 100 xuồng tay (bằng gỗ).

 36110a.gif

Niềm vui đưa cá về bến của ngư dân Huổi Trẳng.

Tận mắt chứng kiến việc mưu sinh thuận lợi trên đất mới của bà con Tủa Thàng, Huổi Só, mới thấy điều ông Lý Thanh Dôn, Chủ tịch UBND xã Huổi Só, chia sẻ thật đúng. Những chòm bản nằm dọc sông đã có được nhiều lợi thế từ khi sông Đà tích nước. Nguồn thủy sản dồi dào, vấn đề giao thương hàng hóa của người dân trong hai xã cũng dễ dàng hơn, đã tạo cho người dân cơ hội đổi đời sau khi tái định cư. Anh Hy phấn khởi: “Phải rời bỏ bản cũ cũng nhiều phân vân, đắn đo lắm. Nhưng khi lên đây mới thấy mình... may mắn! Chúng tôi được Đảng, Nhà nước quan tâm đầu tư điện, đường, xây dựng thủy lợi, hỗ trợ tiền đền bù di chuyển, tái định cư... lại có thêm nguồn sống từ dòng sông”. Có lẽ, để bù lại cho những hy sinh của người dân, dòng nước thâm giao bao đời với bà con ấy đã tạo ra nhiều tiềm năng để bà con khai thác, phát triển kinh tế.

Từ chòi vó của anh Hy, chúng tôi nhìn lên có thể thấy được toàn cảnh những chòm bản gần đó. Những ngôi nhà sàn khang trang, mái lợp prôximăng hoặc tôn mạ màu đều tăm tắp như bàn cờ của hàng trăm hộ quần cư trên triền núi bình yên nhìn xuống dòng sông mênh mang xanh. Nhà nào cũng có bể nước sinh hoạt, vườn rau và chuồng nuôi nhốt gia súc, gia cầm nằm xa nhà chính... Bên cạnh đó là những vạt ruộng lúa chiêm với giống lúa Nghi hương, cho năng suất 84tạ/ha giúp cho bà con không còn hộ nào thiếu gạo. Trên địa bàn đã xuất hiện nhiều ông chủ nhỏ với thu nhập hàng trăm triệu đồng mỗi năm nhờ vào những hoạt động kinh doanh, đánh bắt thủy sản trên sông Đà.

Tôi giở bản đồ đất nước tìm theo dòng chảy sông Đà. Trên bản đồ, dòng sông huyền thoại ấy nhỏ như một vết mèo cào, nhưng mang trong lòng nó biết bao kho báu. Với người dân ở Huổi Só, Tủa Thàng, kho báu ấy không phải là vàng sa khoáng hay những kim loại quý mà chính là những loại cá tươi ngon đang ràn rạt bơi theo dòng nước. Trong tương lai gần, việc khai thác thủy sản sẽ là một trong những lời giải khả quan nhất cho bài toán thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo cho các thôn, bản ven sông Đà. Song việc khai thác nguồn lợi vô giá này cần phải có quy hoạch, định hướng cụ thể, khoa học của các cấp, ngành chức năng.

Người dân các bản ven sông cũng đã bắt đầu nghĩ đến điều đó một cách nghiêm túc. Bởi họ đã nói với chúng tôi bên bến cá Huổi Lóng rằng: “Chúng tôi mong muốn việc khai thác thủy sản sẽ được tổ chức, phân bổ hợp lý để tránh tranh giành địa bàn hoặc thả vó lộn xộn ảnh hưởng đến giao thông đường thủy. Và một việc nữa, rất mong có được sự đầu tư, hướng dẫn kỹ thuật nuôi cá lồng trên sông Đà để bảo vệ nguồn lợi bền vững thì người dân chúng tôi hoan nghênh lắm lắm!”.

Phạm Vân Anh

Bình luận

ZALO