Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Chủ nhật, 06/12/2020 09:12 GMT+7

Sự cần thiết xây dựng Luật Dân tộc trên nền tảng luật pháp quốc tế

Biên phòng - Trong hệ thống luật pháp quốc tế, đến nay đã có hàng trăm văn kiện phổ cập toàn cầu cũng như khu vực về quyền con người nói chung, trong đó có nhiều điều khoản và các văn kiện chuyên biệt quy định về quyền của người dân tộc thiểu số (DTTS). Bên cạnh đó còn có rất nhiều "khuyến nghị", "bình luận" của các thiết chế nhân quyền của Liên hợp quốc (LHQ) cũng như của Ủy ban giám sát thực hiện các Công ước về quyền của người DTTS.

yhfx_7
Tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số. Ảnh: CTV

Xuất phát từ đặc điểm phổ cập của quyền con người, các văn kiện nhân quyền quốc tế đều nhấn mạnh nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử trong việc ghi nhận và đảm bảo quyền con người. Bên cạnh đó, DTTS với đặc điểm là một trong những nhóm người mà quyền của họ dễ bị tổn thương hoặc dễ bị bỏ quên, luật quốc tế đã có những quy định đặc thù về quyền của người DTTS và cơ chế thực hiện quyền của họ.

Trong Bộ luật Nhân quyền quốc tế của LHQ, phải kể đến Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị năm 1966 (ICCPR), có hiệu lực từ ngày 23-3-1976. Việt Nam gia nhập ngày 24-9-1982. Điểm đặc biệt của ICCPR là có một điều khoản riêng (Điều 27) quy định về quyền của người thiểu số về dân tộc, tôn giáo, ngôn ngữ. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để bảo vệ các quyền của người thiểu số, trong đó Công ước nhấn mạnh quyền có đời sống văn hóa riêng, quyền được theo và thực hành tôn giáo riêng, quyền được sử dụng ngôn ngữ riêng.

Tuyên bố về quyền của những người thuộc các nhóm thiểu số về chủng tộc hoặc dân tộc, tôn giáo, ngôn ngữ năm 1992, được Đại hội đồng LHQ thông qua theo Nghị quyết 47/135, ngày 18-12-1992. Đây là văn kiện chuyên biệt quan trọng của LHQ đã cụ thể hóa quyền của các nhóm thiểu số về dân tộc, ngôn ngữ, tôn giáo. Tuyên bố này là văn kiện không ràng buộc về mặt pháp lý đối với các quốc gia thành viên, mà chủ yếu dựa vào sự tự giác tuân thủ của các quốc gia.

Ngay sau khi thông qua Tuyên bố, LHQ đã không ngừng tăng cường phổ biến rộng rãi những quy định của Tuyên bố. Các tổ chức chuyên môn và các cơ quan khác trong hệ thống LHQ được khuyến khích trợ giúp việc thực hiện các quyền đã được ghi nhận trong Tuyên bố này. LHQ đã thiết lập những cơ chế phù hợp nhằm tăng cường các biện pháp để bảo vệ người thiểu số như: Thành lập một số Ủy ban giám sát tiến bộ của các quốc gia thành viên trong việc thực hiện các nghĩa vụ của họ về đảm bảo quyền cho người thiểu số, giám sát việc nội luật hóa các quy định của các văn kiện quốc tế về người thiểu số của các quốc gia thành viên.

Ngoài ra, LHQ cũng thiết lập Nhóm công tác về người thiểu số (1995) và tiến hành các hoạt động nghiên cứu về bảo vệ người thiểu số... Diễn đàn về các vấn đề thiểu số được thành lập trong năm 2007 thay thế cho Nhóm công tác của LHQ về người thiểu số được thành lập 1995. Nhiều quốc gia trên thế giới đã tham chiếu nội dung của Tuyên bố để xây dựng các quy định pháp luật và chính sách quốc gia về người thiểu số, trong đó có Việt Nam.

Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc 1965 (CERD) có hiệu lực từ ngày 4-1-1969. Việt Nam gia nhập ngày 9-6-1981, bảo lưu các Điều 17 (1), 18 (1) về hạn chế không cho một số nước tham gia Công ước và Điều 22 về việc sử dụng Tòa án quốc tế giải quyết các bất đồng liên quan tới Công ước. Công ước nhấn mạnh quyền bình đẳng trước pháp luật của tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, màu da, nguồn gốc quốc gia hay sắc tộc, đặc biệt trong việc hưởng những quyền an ninh cá nhân, những quyền về chính trị như được đi bầu cử và ứng cử trên cơ sở phổ thông đầu phiếu,  được tham gia vào Chính phủ cũng như các hoạt động công cộng khác ở mọi cấp và được bình đẳng trong tiếp cận với các dịch vụ công cộng.

Việt Nam là quốc gia thống nhất với 54 dân tộc, trong đó có 53 DTTS cùng sinh sống hòa bình. Quan điểm nhất quán của Nhà nước Việt Nam là thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển, Nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi kì thị, chia rẽ dân tộc. Nhà nước có chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các DTTS phát huy nội lực cùng phát triển với đất nước nhằm mục tiêu nâng cao đời sống mọi mặt cho đồng bào các DTTS. Lịch sử dân tộc Việt Nam mấy ngàn năm qua đã khẳng định các DTTS là một lực lượng cơ bản, không thể thay thế trong suốt thời kỳ dựng nước và giữ nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, các DTTS ở nước ta ngày càng phát huy vai trò to lớn của mình trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thời gian qua, Đảng, Nhà nước ta đã ban hành và thực hiện rất nhiều chính sách nhằm phát triển mọi mặt đời sống, đảm bảo an ninh, quốc phòng vùng DTTS. Trong các chương trình phát triển vùng DTTS phải kể đến Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình 135 từ năm 1998 là một trong các chương trình xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội thực hiện ở các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa. Nghị định 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ về công tác dân tộc; Chiến lược công tác dân tộc đến năm 2020, Chương trình hành động thực hiện Chiến lược công tác dân tộc đến năm 2020, Đề án tăng cường hợp tác quốc tế hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS của Thủ tướng Chính phủ.

Việc thực hiện chính sách dân tộc đã đạt được những thành tựu to lớn, đời sống mọi mặt của đồng bào DTTS đã được nâng lên rõ rệt, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được tăng cường. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau cả chủ quan và khách quan, quá trình xây dựng và thực hiện chính sách, pháp luật về DTTS còn những bất cập. Cơ chế thực thi quyền của người DTTS còn kém hiệu quả, thiếu khả thi. Đến nay, vùng DTTS vẫn là một trong những vùng nghèo, lạc hậu, dân trí thấp, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội diễn biến phức tạp.

Tại Chương trình hành động thực hiện Chiến lược công tác dân tộc đến năm 2020, Thủ tướng Chính phủ đã giao cho Ủy ban Dân tộc phối hợp với Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội và các bộ, ngành liên quan xây dựng Luật Dân tộc (thời gian xây dựng và trình 2017-2020, thời gian triển khai 2021). Việc xây dựng và thông qua Luật Dân tộc là hết sức cần thiết, cấp bách. Đây sẽ là cơ sở pháp lý quan trọng đảm bảo quyền của người DTTS. Việc xây dựng Luật Dân tộc là phù hợp với đường lối, chính sách của Nhà nước ta, đồng thời phù hợp với xu hướng của thời đại.

Khi xây dựng Luật Dân tộc cũng như các văn bản pháp lý khác liên quan đến DTTS, chúng ta cần phải quán triệt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, chiến lược của Nhà nước, nhất là Hiến pháp 2013. Đồng thời phải nhất quán chính sách bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển giữa các dân tộc và phải phù hợp giữa luật pháp trong nước với luật pháp quốc tế về nhân quyền nói chung và quyền của người DTTS nói riêng trong khuôn khổ LHQ và khu vực ASEAN.

Lê Xuân Trình

Bình luận

ZALO