Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Thứ tư, 02/12/2020 08:31 GMT+7

Sông trăng Sê San

Biên phòng - Sóng... Những con sóng chồm lên hai bên bờ đá trải dài, dòng nước đục ngầu đầu mùa trên sông Sê San không dữ dằn, cũng không hẳn hiền lành. Con sông cuộn mình lại nơi ghềnh đá, rồi bất ngờ duỗi thẳng ra, chảy về nơi hạ nguồn. Bên kia là nước bạn, bên kia là đất nước chùa tháp, đền đài nguy nga, huy hoàng của Rát-ta-na-ki-ri, một tỉnh lị ngày xưa và hôm nay của đất nước Cam-pu-chia tươi đẹp.

6xz4_10-1.jpg

Những con sóng chồm lên hai bên bờ đá trải dài, dòng nước đục ngầu đầu mùa trên sông Sê San không dữ dằn, cũng không hẳn hiền lành. Con sông cuộn mình lại nơi ghềnh đá, rồi bất ngờ duỗi thẳng ra, chảy về nơi hạ nguồn. Bên kia là nước bạn, bên kia là đất nước chùa tháp, đền đài nguy nga, huy hoàng của Rát-ta-na-ki-ri, một tỉnh lị ngày xưa và hôm nay của đất nước Cam-pu-chia tươi đẹp.

Anh lính Biên phòng xốc lại quai súng trên vai, ghì cây súng sát vào người, ngồi trên chiếc ghe máy băng băng giữa dòng nước xiết. Tôi đứng lặng người nheo mắt nhìn theo họ, một tổ "tam tam" trên chiếc ghe máy, tựa con thuyền độc mộc giữa dòng sông mênh mông nước, mênh mông ghềnh đá lúc đang chập choạng.

Trên kia, phía đầu dòng sông Sê San này là con sông Pa Kô của A Sanh, bến sông một thời đưa những đoàn quân ra trận, một bến sông mà cái tên đã trở thành bất tử, một bến sông, một con người đã đi vào lịch sử dân tộc: "Anh lái đò... tên gọi A Sanh...".

Còn ở đây, bên bờ sông Sê San đầy trăng này, tôi chợt nhớ về một thời gian đã rất xa, cách đây hơn bốn mươi năm. Để được nhìn bến bờ, được ngắm dòng sông Sê San đầy trăng, để được ngắm con thuyền độc mộc vươn ra giữa dòng nước xiết, đầy ghềnh thác mà mường tượng ra anh.

Một con người như bao con người khác trên đất nước Việt Nam, với mái chèo khua mặt nước, vén trăng, đón gió, lách đá, vượt ghềnh, đưa những đoàn quân xung trận. Chỉ tiếc một điều, khi tôi đến, A Sanh đã ra đi, đã về cõi vĩnh hằng, chỉ còn dòng sông, chỉ còn bến sông A Sanh, chỉ còn một bến trăng thanh bình và con đò ngày xưa dưới một chiều hoàng hôn lộng gió...

Tôi cũng thật bất ngờ được gặp một "đồng hương" là đồn trưởng ở nơi đây. Anh tên là Phan Đình Thành, người Bình Giang, Hải Dương. Anh chỉ cho tôi người sĩ quan cầm lái trên chiếc ghe độc mộc đang rẽ sóng giữa dòng sông Sê San đầy trăng và gió, rồi bảo: "Cậu ấy là Thiếu úy Trần Nhật Tường, là "chốt trưởng" trên dòng Sê San này đấy. Nếu có thời gian, anh tiếp xúc với cậu ấy, dí dỏm và nhiều chuyện hay lắm đấy, cậu ta thuộc "mẫu con cưng" của đồn tiền tiêu này, anh ạ...".

Trước khi rời thành phố Pleiku, Gia Lai lên đây, Đại tá Lê Thuần Huy, Chính ủy BĐBP tỉnh bắt tay tôi thật chặt, rồi quay ra bảo với cả đoàn văn nghệ sĩ là hội viên của Hội Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam: "Các anh, các chị lên Đức Cơ, lên cửa khẩu Lệ Thanh, lên với các đồn Biên phòng, các anh, các chị sẽ hiểu thêm về cuộc sống và việc làm thường nhật của những người chiến sĩ nơi biên cương này...".

Cuộc sống nơi biên giới thì dẫu sao, tôi cũng hiểu được một phần nào đó công việc của các anh, bởi gia đình tôi vẫn đang sống ở một vùng biên giới phía Bắc, nơi có Công viên địa chất toàn cầu, đấy là Cao nguyên đá Đồng Văn, Hà Giang. Tôi đã được "mục sở thị" hình ảnh các chiến sĩ Biên phòng hằng ngày xuống cơ sở, đi tuần tra và làm rất nhiều công việc "không tên" khác như dạy học, giúp dân trồng cấy hay thu hoạch mùa màng, trồng rừng, đào ao, nuôi lợn, nuôi gà...

Còn ở bên dòng sông Sê San này, thuộc biên giới phía Tây Tổ quốc cũng có những điểm khác biệt hơn. Các đồn Biên phòng ở đây luôn đặt công tác dân vận lên hàng đầu. Ai cũng biết, tâm nguyện của bà con, "cái bụng" quần chúng nhân dân, "cái tai, cái mắt" đồng bào nơi biên cương là một biên giới vững chắc nhất của chủ quyền đất nước. Nhưng dẫu sao, thì người anh em, đồng bào Mông trên biên giới quê tôi có tập quán sinh hoạt khác với đồng bào Ja Rai ở đây chứ.

Trước cái hôm lên thăm Đồn BP Ia Nan, chúng tôi được nghe già làng Dơ Chăm Toen, hay còn gọi là Siu Bình, dân tộc Ja Rai, ở làng Sơn, xã Ia Nan, thuộc huyện Đức Cơ kể về BĐBP với ánh mắt rạng ngời niềm tin: BĐBP Đồn Ia Nan tốt lắm, bao năm qua, nó ở với đồng bào mình trên vùng biên giới này như người của bản làng mà. Cái gì nó cũng biết làm, việc gì nó cũng làm giỏi, từ trồng cây tiêu, tới chăm sóc cây điều, cây mì, cây khoai, nuôi con lợn, con bò... Nó còn giúp đồng bào làm lại nhà cửa, quy hoạch lại chuồng trại. Nó nói tiếng đồng bào mình, dân tộc mình còn giỏi hơn mình đấy... Ông bảo, BĐBP biết nhiều hơn cái bụng của mình, còn mình thì nghĩ được, nhưng nói thì không được như cái BĐBP đâu.

Từ lời ông nói, tôi tìm gặp Thượng úy Lê Minh Hải, Đội trưởng Đội Vận động quần chúng của Đồn BP Ia Nan. Anh nhìn tôi cười: "Chúng em là những chiến sĩ Biên phòng nơi biên giới này hễ làm được việc gì có ích cho đồng bào thì cứ làm thôi. Bằng cách "cầm tay chỉ việc", chúng em cùng đồng bào trồng cấy, làm cỏ bón phân, chăn nuôi, chăm sóc gia đình, làng bản...".

Nói rồi, anh đưa chúng tôi xuống từng gia đình, đến đâu anh cũng được đồng bào đón tiếp như người thân về nhà vậy. Đúng như già làng Dơ Chăm Toen nhận xét, các anh giao tiếp với đồng bào Ja Rai nơi đây hoàn toàn bằng tiếng địa phương làm cho tôi thật sự ngỡ ngàng.

Thượng tá Nguyễn Hoan, Chính trị viên đồn bảo: Muốn làm tốt công tác vận động quần chúng ở vùng đồng bào Ja Rai, điều quan trọng nhất là phải biết tiếng, hiểu tâm tư, nguyện vọng của đồng bào. Việc đầu tiên muốn nói cho dân nghe thì phải biết nói, biết làm, biết nghĩ những cái đồng bào từng nghĩ trong bụng. Khi đồng bào đã làm theo, đã tin, đã yêu rồi thì lòng tin ấy khó có thể thay đổi được.

Trên địa bàn xã Ia Nan này có 10 thôn làng, những người lính Biên phòng ở đây đều phải thuộc từng xóm, từng nhà, nhất là 3 thôn làng giáp đường biên. Cả 3 thôn có khoảng 640 hộ, trong đó có cả người Kinh lẫn người Ja Rai sinh sống. Xã Ia Nan cũng có 2 trường tiểu học, một trường trung học cơ sở và một trường trung học phổ thông cho 3 xã là Ia Nan, Ia Dom và Ia Bnon. Vậy là, thôn làng nào cũng có các phân trường, đối với những xã nghèo, người dân nghèo thì việc vận động đưa con em tới trường luôn được đơn vị đặt lên hàng đầu và đó cũng là trách nhiệm của người chiến sĩ Biên phòng.

Đêm đổ xuống dòng sông Sê San thật nhanh, ánh hoàng hôn cuối chiều vụt tắt. Cả dòng nước như ánh lên màu bạc, màu của trăng làm bạc đi cả cánh rừng le, rừng săng lẻ. Dòng Sê San đang vặn mình ôm lấy núi rừng miền biên ải, để ánh trăng le lói thả vào đầu mũi thuyền hiện lên mờ mờ ngược dòng về phía Pa Cô như bức tranh thủy mạc.

Anh Thành, Đồn trưởng Đồn BPCK Lệ Thanh lại cười khi mời chúng tôi vào mâm, ăn cơm tối: "Hôm nay đãi các anh, các chị trong đoàn nhà văn đi thực tế bằng "cây nhà lá rừng" nhé...". Bữa cơm dọn ra dưới bóng cây bằng lăng trắng to khoảng hai, ba vòng ôm. Chao ơi, thật hạnh phúc, đã lâu lắm rồi tôi mới được ngồi thế này, dưới những "cành trăng" loang lổ trên mặt đất, mé một bờ sông. Mấy cái chiếu nhựa được ghép lại, mấy tàu lá chuối trồng quanh "chốt gác" được chặt xuống làm mâm. Nào gà tự tay cán bộ, chiến sĩ chăn nuôi, nào cá các anh câu dưới sông. Đúng là "cây nhà, lá rừng" thật. Sản vật dưới sông Sê San, sản vật rừng Lệ Thanh đều được cắm vào những cành cây rừng, nướng trên than củi. Thêm vào đấy là mấy tô chuối nấu, mấy tô canh "lá đắng", đúng như Đồn trưởng mời.

Có lẽ cuộc đời làm nhà báo, nhà văn dẫn tôi đến nhiều vùng, nhưng bữa "ăn trăng Sê San" chỉ có một không hai trong đời. Chúng tôi vừa ăn, vừa ngắm "trăng non", ngắm "rừng già" bên bờ sông Sê San lao xao bóng nước, dưới bóng cây bằng lăng trắng loang lổ "cành trăng" mùa "sung" lá, một bữa cơm Biên phòng "có dễ mấy ai quên"...

Ngồi ăn cơm ngay bên cạnh anh sĩ quan lái chiếc ghe máy lúc chiều là Thiếu úy Trần Nhật Tường vẫn để nguyên bộ quân phục ăn cơm, tôi quay sang hỏi anh: "Sao anh không thay quần áo hay mặc quần áo lót cho mát mà cứ mặc quân phục mãi thế?". Anh cười hiền: "Lính mà anh, đùng một cái là có chuyện, không thể không cơ động. Vì thế, em và mấy đồng chí trực ca đều phải sẵn sàng, không để Tổ quốc bị bất ngờ, anh ạ...".

À ra vậy đấy, những người lính biên thùy là thế, ngay trong lúc ăn, lúc ngủ, họ cũng không quên nhiệm vụ mà Tổ quốc trao cho họ. Bữa cơm với những món ăn thật ngon được bàn tay người lính sắp ra trên một địa điểm "cũng rất ngon", rất khoáng đạt và đầy thơ mộng. Một dòng sông đầy ắp ánh trăng, dưới tán rừng già cũng loang lổ cành trăng... Tôi chợt se se lòng, có lẽ tôi đa cảm quá chăng? Nhưng cũng có thể tôi cảm nhận được những gì mà các anh phải chịu đựng, hy sinh nơi vùng biên ải, mà Tổ quốc và nhân dân giao phó.

Chín giờ tối, chúng tôi về nhà nghỉ của Công ty TNHH Một thành viên 15. Đêm ấy, nằm trong phòng khách sạn đầy đủ tiện nghi, bên cạnh là Nghệ sĩ nhiếp ảnh Huy Tịnh, người ở thành phố Pleiku mà tôi trằn trọc không sao ngủ được. Tôi bỗng nhớ lại bữa cơm tối bên dòng Sê San, thấy chiếc thuyền độc mộc lao vút đi, ngược dòng vào "con sông hoàng hôn" lúc chiều hay "con sông trăng" lúc tối.

Một con sông ngầu ngầu đỏ phù sa đầu mùa nước, mà nhớ, mà thương, mà lưu luyến. Tôi lại thấy Thiếu úy Trần Nhật Tường ôm chặt cây súng vào lòng, lủng lẳng trước ngực anh là chiếc ống nhòm quân dụng trên "con thuyền trăng" nhòa vào "con sông trăng" nơi biên giới...

Sáng hôm sau, chưa đến 7 giờ, chúng tôi lên thăm Đồn BPCK Lệ Thanh, nay là nơi đặt bia tưởng niệm 10 anh hùng liệt sĩ của đơn vị đã anh dũng hy sinh trong thời kỳ chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc. Giá như không có cái thời khắc mà bọn Khmer đỏ liều lĩnh gây hấn biên giới hai nước Việt Nam - Cam-pu-chia. Giá như không có cái ngày đau thương ấy thì đâu đến nỗi, các anh phải hy sinh khi đất nước ta vừa giải phóng. "Giá như"... bao nhiêu cái "giá như" mà chân tôi như muốn khuỵu xuống...

Nén hương trong tay tôi run rẩy, mắt tôi nhòa đi trên hàng bia mang tên các anh. Có những chiến sĩ mới chỉ tròn 19 tuổi và chưa tròn một năm quân ngũ như Thượng sĩ Đoàn Văn Thanh. Tôi lần đọc tên các anh, liệt sĩ Trương Quang Bình, quê ở Hà Tĩnh; liệt sĩ Nguyễn Văn Dũng, quê ở Hà Nội hay liệt sĩ Vũ Duy Hiệp, Trần Văn Khả, Phạm Văn Núi, Nguyễn Quang Nam, Nguyễn Minh Trí, Đỗ Văn Thanh, Nguyễn Văn Thức, Đoàn Văn Thanh.

Mỗi người mỗi miền quê, một miền ký ức mang tuổi thanh xuân thật đẹp về cây đa, giếng nước, sân đình và có thể là những "bóng nón trắng" đâu đó chưa một lần thổ lộ. Có liệt sĩ quê ở Gia Lâm, Thanh Trì hay Đông Anh - Hà Nội, có liệt sĩ quê mãi Đông Triều - Quảng Ninh hoặc quê Kim Động - Hưng Yên, hay Quảng Xương, Quan Hóa - Thanh Hóa... Các anh đã nằm lại nơi này, máu các anh đã đổ cho Tổ quốc bình yên, tên các anh đã hòa vào tên đất nước, hòa vào dòng sông Sê San, hòa vào ánh trăng trên vùng biên cương Tổ quốc. Các anh mãi sống với tuổi hai mươi khi "... gân đang săn và thớ thịt căng da...".

Chúng tôi lần tìm hàng bia, phần mộ các anh dưới chân đồi bên cửa khẩu Lệ Thanh. Các anh, những anh hùng liệt sĩ vẫn nằm lại nơi đây, nơi Tổ quốc thiết tha đang "gọi tên mình". Tôi mím chặt môi bước theo bóng nắng đầu ngày của cửa khẩu Lệ Thanh, mà vẫn như thấy dòng sông Sê San chở đầy ánh trăng của đêm qua. Một con thuyền, một dòng sông, một bến Pa Cô hay bến A Sanh trên một vùng biên giới, một dòng trăng Sê San huyền thoại.
Nguyễn Quang

Bình luận

Liên kết hữu ích
ZALO