Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Thứ bảy, 06/03/2021 03:53 GMT+7

Sáng tình đồng chí, đẹp tình biên cương

Biên phòng - Biên giới Việt - Lào những ngày đầu Đông, nhân dân các dân tộc của hai nước bên Tây, bên Đông Trường Sơn trùng điệp đang rộn ràng chuẩn bị cho Tết cơm mới. Vùng đất đạn bom năm xưa, hai dân tộc nương tựa vào nhau cùng chống kẻ thù chung giờ đây đang khởi sắc từng ngày với những dự án xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho việc giao lưu, phát triển kinh tế giữa hai nước. Hai Đảng, hai Nhà nước luôn khẳng định sẽ tiếp tục tăng cường hợp tác xây dựng khu vực biên giới ngày càng ổn định và phát triển toàn diện hơn.

m54i_7a
Cán bộ Biên phòng Việt Nam và nhân dân các bộ tộc Lào cùng nhau quây quần đón Tết trên biên giới. Ảnh: Vân Anh

Biên giới nghĩa tình

Đường biên giới Việt - Lào dài hơn 2.000km, bắt đầu từ cột mốc ngã ba biên giới A Pa Chải, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên và kết thúc tại cột mốc ngã ba biên giới Bờ Y, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum. Trong quá khứ, quan hệ Việt - Lào vốn đã có những khởi đầu tốt đẹp và thân thiện. Các thư tịch cổ còn lưu giữ được tới ngày nay cho thấy mối quan hệ bang giao tốt đẹp trên mọi phương diện giữa các triều đại phong kiến Việt Nam - Lào. Khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, Lào, Campuchia cuối thế kỷ 19, lịch sử ghi nhận đã nhiều lần nhân dân hai nước cùng kề vai sát cánh chống quân xâm lược, tạo nên những chiến công vang dội đã vun đắp nên một tình hữu nghị đặc biệt cho tới tận ngày nay.

Cuối năm 1928, bản Xiêng Vang - một bản nhỏ thuộc tỉnh biên giới Khăm Muộn là nơi chứng kiến những tháng ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại bắt đầu truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng cứu nước mới vào Đông Dương. Tại đây, Người đã soạn tài liệu tuyên truyền, mở lớp dạy chữ, đào tạo cán bộ cách mạng từ một số Việt kiều yêu nước và những người Lào tiến bộ. Sau khi ra đời chưa được bao lâu, do yêu cầu của cách mạng, tháng 10-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đổi tên thành Đảng Cộng sản Đông Dương để tăng cường thêm sức mạnh cho phong trào đấu tranh của ba nước Đông Dương.

Nếu vùng biên Khăm Muộn đã yêu thương, giúp đỡ cho những tháng ngày hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Lào thì những bà con ở xã biên giới Phiêng Khoài, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La đã đùm bọc, chở che cho người con ưu tú của cách mạng Lào Kaysone Phomvihane. Đồng chí đã được gia đình cụ Tráng Lao Khô nhận làm con nuôi. Tại vùng đất biên cương này, đồng chí Kaysone Phomvihane đã tổ chức thành lập Quân giải phóng Lào. Từ đây, các bạn Lào đã mở rộng căn cứ thành 4 khu Sầm Nưa, Xiêng Khoảng, Phong Xa Lỳ và Luông Phra Băng. Bản Lao Khô ngày nay đã được lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước đầu tư xây dựng một khu di tích lịch sử cách mạng Việt - Lào trên biên giới.

Sát vai nhau chống kẻ thù chung

Thật khó có thể kể hết những câu chuyện nhường cơm sẻ áo, yểm trợ nhau qua từng trận đánh, chi viện cho nhau qua từng chiến dịch của những chiến sĩ giải phóng quân Lào với quân tình nguyện Việt Nam. Trong kháng chiến chống Pháp, nhân dân Lào vẫn nhớ những người lính trong đoàn quân Tây Tiến giúp đỡ quân dân Lào xây dựng, củng cố vùng giải phóng và các căn cứ liên hoàn suốt từ Thượng Lào đến Trung Lào, Hạ Lào. Trong kháng chiến chống Mỹ, một lần nữa quân dân hai nước lại kề vai sát cánh đấu tranh với kẻ thù mới. Những chiến công liên tiếp của liên quân Việt Lào đã buộc Mỹ phải công nhận nền độc lập của Lào tại Hội nghị Geneve tháng 7-1962.

Là một dân tộc hiền hòa và nghĩa tình son sắt, nhân dân các bộ tộc Lào cũng đã có những sự giúp đỡ quan trọng để cách mạng Việt Nam nhanh chóng giành được thắng lợi vẻ vang. Đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh huyền thoại cánh Tây Trường Sơn nhiều đoạn chạy dọc theo khu vực biên giới của đất bạn qua các tỉnh Trung và Hạ Lào. Trong quá trình mở đường, Đảng và nhân dân bạn giúp đỡ hết sức nhiệt tình, vì bạn coi đây là con đường chiến đấu chung của cả ba nước Đông Dương đánh Mỹ. Vậy là đường Trường Sơn cứ dài theo đất nước, như mũi tên lao về phía quân thù cho đến ngày toàn thắng.              

Từ năm 1959 đến năm 1962, tình hình biên giới Việt - Lào vô cùng căng thẳng. Cuộc nội chiến ở Lào diễn ra hết sức quyết liệt, cán bộ và nhân dân Lào yêu nước bị bọn phản động phái hữu sát hại và truy đuổi phải tạm lánh qua nước ta để tránh sự khủng bố của địch. Vùng biên giới Điện Biên, Sơn La, Nghệ An, Thanh Hóa, mỗi ngày các đồn Biên phòng và chính quyền địa phương phải tiếp nhận và giải quyết nơi ăn chốn ở cho hàng nghìn người Lào.

Trong giai đoạn ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, đất nước còn nhiều khó khăn, song với tinh thần "giúp bạn là tự giúp mình", Trung ương Đảng chủ trương đẩy mạnh công tác giúp đỡ bạn Lào về mọi mặt. Nghị quyết số 170/NQ-TƯ ngày 10-10-1967 của Bộ Chính trị nêu rõ phương châm giúp bạn của ta là "một cách cơ bản, toàn diện, liên tục và lâu dài…". Thực hiện chỉ thị của cấp trên, từ năm 1965 cho tới năm 1975, Bộ Tư lệnh Công an nhân dân vũ trang (nay là BĐBP) đã tổ chức 96 tổ trinh sát gồm 215 trinh sát viên, 130 đội công tác cơ sở với 830 lượt cán bộ, chiến sĩ thường xuyên hoạt động trên đất bạn, phối hợp cùng bạn phát hiện hàng chục tổ chức nhen nhóm phản động, hàng chục đường dây gián điệp biệt kích xâm nhập qua biên giới…

Trong rất nhiều hoạt động giúp bạn trên biên giới, không thể không nhắc đến  chiến dịch K5. Bọn phỉ Vàng Pao do Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) trực tiếp chỉ huy nhằm khống chế các địa bàn hành lang biên giới, chia cắt vùng giải phóng của bạn với miền Bắc nước ta. Chúng đẩy mạnh hoạt động biệt kích, thám báo và xâm nhập vào nước ta để do thám, chỉ điểm cho máy bay địch bắn phá. Trước tình hình đó, Công an nhân dân vũ trang Nghệ An đã báo cáo lên Tỉnh ủy Nghệ An xin chủ trương giải quyết. Sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng, Trung ương Đảng và Chính phủ đã nhất trí với đề xuất của tỉnh Nghệ An là mở chiến dịch tiêu diệt phỉ Vàng Pao với tên gọi là chiến dịch K5, giao cho Công an nhân dân vũ trang thực hiện.     

Suốt thời gian từ năm 1969 đến 1972, ta bám chắc địa bàn, xây dựng cơ sở chính trị và cùng lực lương vũ trang nước bạn liên tục chiến đấu tiêu diệt đồn Mường Chuồn, đồn Pa Hom, đồn Phà Cạt, làm tan rã nhiều toán phỉ và gián điệp tay sai, giải phóng hàng vạn nhân dân Lào thoát khỏi sự khống chế, kìm kẹp của địch. Chiến thắng này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ biên giới từ xa và làm thất bại âm mưu phá hoại cách mạng hai nước của kẻ địch.

 Hòa bình, ổn định và hữu nghị

Kháng chiến chống Mỹ thành công, hai nước Việt Nam - Lào cùng bước vào công cuộc tái thiết đất nước, tiến theo con đường chủ nghĩa xã hội. Giữa bộn bề công việc, song lãnh đạo hai Đảng, hai đất nước đã sớm thống nhất giải quyết vấn đề biên giới, lãnh thổ. Ngày 18-7-1977, "Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào" đã được ký kết.

Một năm sau khi ký Hiệp ước, Việt Nam - Lào bắt đầu tiến hành phân giới cắm mốc trên thực địa. Trong công tác đặc biệt quan trọng này, Công an nhân dân vũ trang đã góp một phần không nhỏ sức lực và trí tuệ. Chính phủ chỉ rõ: "Phải huy động lực lượng Công an nhân dân vũ trang trực tiếp tham gia vào việc phân giới cắm mốc và có kế hoạch đảm bảo an toàn trong quá trình triển khai công tác này tại thực địa" (Chỉ thị số 319/TTg ngày 11-11-1977).         

Sau 6 năm lăn lộn trên những đỉnh cao hiểm trở, khí hậu khắc nghiệt, bằng lòng quyết tâm và tinh thần tương trợ lẫn nhau, lực lượng phân giới cắm mốc hai nước đã hoàn thành nhiệm vụ, hệ thống mốc quốc giới Việt - Lào được hoàn thành với 202 mốc trên tổng số 2.067km đường biên. 33 năm sau (2016) cũng chính những chiến sĩ Biên phòng là lực lượng nòng cốt, xung kích trong hoàn thành nhiệm vụ tăng dày và tôn tạo hệ thống mốc quốc giới Việt - Lào. Thành quả đó thể hiện ý chí, nguyện vọng chung của hai Đảng, hai Nhà nước và hai dân tộc, mở ra một thời kỳ mới trong xây dựng và phát triển của hai nước nói chung và khu vực biên giới nói riêng. "Sáng tình đồng chí, đẹp tình biên cương", biên giới Việt - Lào đã thực sự là biên giới của hòa bình, hữu nghị và ổn định.

Phạm Vân Anh

Bình luận

ZALO