Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Chủ nhật, 17/10/2021 07:35 GMT+7

“Quả bầu” nuôi dưỡng đời sống văn hóa của dân tộc Khơ Mú

Biên phòng - Xin được gọi ông Vì Văn Sang là “Nghệ nhân dân gian”, vì ông là người có công sưu tầm các loại nhạc cụ, các điệu múa dân gian.

mt01_21a
Nghệ nhân Vì Văn Sang (bên trái) hướng dẫn thế hệ trẻ đánh cồng chiêng của dân tộc Khơ Mú. Ảnh: Nhật Thanh

Ông góp phần phục dựng hàng chục lễ hội như: Lễ hội cầu mùa, cầu mưa, lễ ăn cơm mới. Ngoài ra, ông đã sưu tầm, tạo dựng lại được 10/13 loại nhạc cụ truyền thống và nhiều câu châm ngôn, ca dao, tục ngữ của dân tộc Khơ Mú. Với những đóng góp trong việc gìn giữ và phát triển vốn văn hóa dân tộc Khơ Mú, ông Vì Văn Sang đã được huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái đề nghị Nhà nước công nhận là Nghệ nhân dân gian. Nếu được công nhận, ông Vì Văn Sang sẽ là “nghệ nhân” đầu tiên của dân tộc Khơ Mú vùng Tây Bắc.

Chúng tôi đến thăm “nghệ nhân” Vì Văn Sang, thôn Nậm Tộc, xã Nghĩa Sơn, huyện Văn Chấn đúng vào lúc ông đang tất bật chuẩn bị cho việc tổ chức lễ chọc lỗ tra hạt, một lễ tục nông nghiệp quan trọng trong hệ thống các lễ tục của đồng bào Khơ Mú.

Ở tuổi 70, “nghệ nhân” Vì Văn Sang vẫn còn lanh lẹ, đôi mắt sáng tinh nhanh, tràn đầy nhiệt huyết với văn hóa dân tộc. Trong câu chuyện của mình, ông luôn tự hào được lớn lên trong “bầu sữa” văn hóa của đồng bào dân tộc Khơ Mú và có niềm đam mê, thẩm thấu những nét văn hóa đặc sắc của dân tộc mình.

Ngôi nhà 3 gian, 2 chái của ông Sang được đồng bào Khơ Mú coi là nhà văn hóa. Ngôi nhà luôn mở rộng đón mọi người đến để tìm hiểu văn hóa của dân tộc Khơ Mú ở khu vực Tây Bắc. Cộng đồng người Khơ Mú ở xã Nghĩa Sơn có trên 1.300 người. Dù số lượng không lớn, lại sống chung với cộng đồng các dân tộc có nền văn hóa đa dạng, phong phú, người Khơ Mú nơi đây vẫn giữ được nhiều nét văn hóa đặc sắc trong đời sống sinh hoạt và “nghệ nhân” Vì Văn Sang được coi như  một pho sách sống trong kho tàng văn hóa cũng như trong việc giữ gìn, phát huy hồn cốt văn hóa của dân tộc Khơ Mú.

“Nghệ nhân” Vì Văn Sang cho biết: Người Khơ Mú có câu “Ruôi rít chi moong”, có nghĩa là bỏ phong tục tập quán sẽ bị tàn lụi, để nhắc nhở mọi người phải biết quý trọng và giữ gìn những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc. Rồi ông kể câu chuyện về quả bầu tổ tiên của loài người theo quan niệm của người Khơ Mú.

Chuyện đã được lưu truyền từ xa xưa, có nội dung kể rằng: Trời sắp gây ra trận đại hồng thủy thì có hai anh em được con dúi mách. Hai người lấy khúc gỗ to rồi khoét rỗng, chui vào cây gỗ và thoát nạn. Sau 7 ngày 7 đêm, họ chui ra khỏi cây gỗ thì xung quanh không còn một bóng người và loài vật. Tất cả đều đã chết, mặt đất chỉ còn lại hai anh em họ mà thôi. Ngày qua ngày, họ sinh sống với nhau.

Về sau, con chim Tgoóc thấy họ buồn bã quá bèn khuyên hai người lấy nhau để loài người được tồn tại lâu dài. Sau nhiều lần từ chối, hai anh em họ buộc phải lấy nhau. Người vợ sau khi có thai được 7 năm 7 tháng 7 ngày thì sinh ra một quả bầu. Người chồng lấy làm lạ, định bỏ đi, nhưng người vợ không nỡ, mới đem gác quả bầu lên bếp.

Có lần, đi làm nương rẫy về, người chồng nghe trong nhà có tiếng người nói lao xao thì lấy làm lạ lắm. Khi anh ta áp tai vào quả bầu thì thấy có tiếng người nói với nhau trong đó. Hai vợ chồng lấy đầu que, đốt lên để dùi thủng quả bầu ra. Từ trong quả bầu, người Khơ Mú chui ra trước, người chồng thấy vậy bèn khoét lỗ to hơn, thế là từ trong quả bầu, người Thái, người Lự, người Tày… lần lượt cùng nhau chui ra, đến cuối cùng, người Lào và người Kinh cũng ra nốt.

Người Khơ Mú từ quả bầu chui ra đầu tiên nên bị vết than đen của quả bầu dính vào, vì thế họ có nước da ngăm đen. Còn người Kinh ra sau cùng nên da trắng hơn. Khi tất cả các dân tộc đều chui ra thì bản làng trở nên đông đúc, mỗi dân tộc phải tìm đến ở một khu vực để sinh sống. Người Khơ Mú ở lại gần chỗ quả bầu nơi lưng chừng núi, người Mông lên đỉnh núi cao, người Thái đi xuống bên suối, người Kinh ra sau cùng nên phải đi xa nhất, xuống tận vùng đồng bằng ngày nay.

“Nghệ nhân” Vì Văn Sang cho biết: Trong tâm thức người Khơ Mú, quả bầu luôn mang lại những điều tốt lành cho họ. Khi trong nhà có người ốm đau, bệnh tật, người Khơ Mú mời thầy bói về làm lễ. Thầy bói thường có hình thức ma thuật là lấy cái áo chủ nhà trùm lên vỏ quả bầu khô, vì đây là vật đã sinh ra loài người nên nó rất thiêng liêng.

“Nghệ nhân” Sang luôn trăn trở làm sao để lưu giữ và phát triển những giá trị văn hóa dân tộc mình và những thế hệ kế cận thực sự tâm huyết với truyền thống dân tộc; làm sao để lưu truyền những nét văn hóa dân tộc cho phù hợp với đời sống văn hóa mới? Tuổi càng cao, ông càng lo lắng nhiều hơn, càng chạy đua với thời gian, ông miệt mài tìm lại những giá trị văn hóa truyền thống của cha ông từ những nhân chứng còn lại.

Một trong những lễ hội mà nghệ nhân đã phục dựng thành công, đó là lễ cầu mưa. Theo “nghệ nhân” Sang, trước đây, vào những năm hạn hán, người Khơ Mú thực hành lễ cầu mưa, đó là biểu hiện của tín ngưỡng thờ ma nước (thuồng luồng).

Lễ cầu mưa của người Khơ Mú thực chất là lễ chọc tức thuồng luồng để nó làm mưa. Vì trong quan niệm của người Khơ Mú, thuồng luồng là loại ma làm mưa. Khi lúa, ngô đang lên tươi tốt, nhưng lại ít mưa, thiếu nước, sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến cây trồng và đến đời sống con người. Lúc đó, người Khơ Mú làm lễ cầu mưa. Họ vừa diễn lại hiện tượng mưa rơi như vẩy nước, tuốt lá, lại vừa trêu tức thuồng luồng. Hình thức ma thuật này biểu hiện khát vọng và tín ngưỡng cổ xưa của loài người.

Những làn điệu dân ca cũng được “nghệ nhân” Sang khôi phục về cả phần lời và phần điệu cho đúng với nguyên bản xưa cha ông để lại. Theo “nghệ nhân” Sang, nhắc đến dân ca của người Khơ Mú là nhắc đến những điệu hát tơm. Những làn điệu hát tơm hoàn toàn là những bài được người Khơ Mú xưa sáng tác và lưu truyền suốt bao đời nay với một hình thức duy nhất bằng truyền miệng. Mỗi làn điệu đều mang một hơi thở, một tâm hồn và phản ánh chân thực nhất đời sống tinh thần của họ.

Có lẽ, điều khiến “nghệ nhân” Vì Văn Sang vui nhất, đó là thế hệ trẻ của dân tộc Khơ Mú hiểu và nhiệt tình đón nhận kiến thức mà ông truyền đạt. Các phong tục như tục lấy nước mới, thờ cúng tổ tiên, tục cưới xin dần dần được thế hệ con cháu trong và ngoài dòng họ thực hiện và ngày càng phổ biến hơn. Tranh thủ mọi thời gian, “nghệ nhân” Sang lại truyền dạy cho con cháu tình yêu văn hóa, giải thích ý nghĩa của các loại nhạc cụ hay các lễ tục quan trọng của dân tộc.

“Nghệ nhân” Sang cũng đang ấp ủ tâm nguyện là xuất bản cuốn sách ghi lại một cách đầy đủ và sinh động nhất về những nét đặc sắc trong đời sống sinh hoạt văn hóa vật chất, tinh thần của cộng đồng người Khơ Mú ở xã Nghĩa Sơn, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái.

Nguyễn Nhật Thanh

Bình luận

ZALO