Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Thứ sáu, 25/09/2020 01:47 GMT+7

Ông giáo đặc biệt của dân bản Huồi Máy

Biên phòng - Đã gần 20 năm nay, thầy Lô Văn Lan, giáo viên trường Tiểu học Cắm Muộn 2 vẫn kiên trì bám bản Huồi Máy truyền dạy con chữ cho các thế hệ học trò. Không những thế, thầy còn giúp đồng bào Khơ Mú ở Huồi Máy thay đổi nhận thức, sinh hoạt hằng ngày và tích cực tham gia phát triển kinh tế hộ gia đình. Vì thế, bà con ở đây luôn dành cho ông sự kính trọng đặc biệt.

h86p_14
Thầy giáo Lan uốn nắn từng nét chữ cho các học trò của mình. Ảnh: Viết Lam

Gian nan con đường vào Huồi Máy

Bản Huồi Máy thuộc xã Cắm Muộn, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An nằm tách biệt giữa đại ngàn. Bản có 39 hộ dân với 177 nhân khẩu đồng bào Khơ Mú, 100% số hộ trong bản là hộ nghèo. Do bản nằm giữa rừng sâu, cuộc sống chủ yếu tự cung tự cấp, nên còn có tên riêng là "bản nhiều không". Từ khi "lập bản" đến nay, cùng với việc tập trung hướng dẫn nhân dân thực hiện cuộc sống mới, chính quyền địa phương, ngành giáo dục luôn quan tâm để con em đồng bào Khơ Mú được học chữ.

Đường vào bản hết sức khó khăn, với khoảng 15km đường đồi núi, 14 lần lội suối, mất hơn 4 tiếng đồng hồ. Vậy mà 20 năm trước, thầy giáo Lô Văn Lan đã xung phong vào đây để dạy chữ cho con trẻ và gắn bó từ đó cho đến nay. Hôm chúng tôi cùng thầy Lan vào Huồi Máy, thời tiết đang chuyển mùa, cơn mưa phùn đậm hạt làm cho quãng đường trở nên vất vả hơn nhiều. Những con dốc trơn trượt, khiến mấy thầy trò, nhất là những người vốn không quen đường như chúng tôi vấp ngã liên tục. Sau bao nhiêu vất vả, bản làng của người Khơ Mú đã hiện ra trước mắt. Đám học trò ùa ra đón thầy và khách giọng líu lô như đón mẹ đi chợ về. Thầy lấy quà trong chiếc cặp chia đều cho chúng, đứa nào cũng đều hớn hở thích thú. Tối hôm ấy, thầy Lan đãi chúng tôi bữa cơm nếp và một bát cá khô kho mặn chát. Trong bữa cơm bên bếp lửa bập bùng, câu chuyện cắm bản của thầy giáo được dần tái hiện.

Hơn 16 năm trước, theo chủ trương của ngành giáo dục địa phương về việc mở lớp học ở Huồi Máy, thầy giáo Lan đã xung phong nhận nhiệm vụ. Hồi đó, cả bản chỉ có 2 nóc nhà, vì hầu hết người dân sống ở trong rừng, bọn trẻ con theo cha mẹ nên chả học hành gì cả. Thầy Lan cùng già làng Vi Văn Quế nhiều ngày lặn lội vào rừng vận động dân bản về dựng nhà tập trung để con cháu được đi học. Nhà dựng quây quần bên dòng suối, lớp học cũng được dựng lên. Huồi Máy bắt đầu có tiếng trẻ ê a học bài. Giữa đại ngàn hoang vu, tiếng học bài con trẻ chẳng thể át được tiếng chim kêu, vượn hú.

Hết thời gian "nghĩa vụ", thầy Lan được rút về trường chính. Cấp trên điều động một thầy giáo và 2 cô giáo trẻ về tiếp quản điểm trường này. Thế nhưng, các đồng nghiệp của thầy Lan cũng chỉ trụ được hơn một tháng rồi xin chuyển đi nơi khác. Thế là thầy Lan phải quay trở lại điểm trường và ở miết từ đó đến nay. Đồng bào Khơ Mú sống dựa vào rừng nên dựng nhà lên rồi khóa cửa để đấy. Trẻ con thì gửi chung một nhà trong bản hoặc phó mặc cho thầy giáo.

Cứ 2-3 tuần, thầy Lan về thăm nhà một lần (nhà thầy ở ngoài trung tâm xã) để lấy gạo, mắm phục vụ sinh hoạt hằng ngày cho mình và thêm cho cả học trò. "Cuộc sống của bà con ở đây khó khăn quá, cho con đi học đã là một cố gắng lớn, ngay cái lớp học bị hư hỏng, thủng mái hết rồi mà vẫn chưa sửa chữa được. Lắm khi thầy trò học mà ướt đẫm sương" -  thầy Lan tâm sự.

Người thầy đáng kính

Ở Huồi Máy,  thầy giáo Lan phụ trách lớp ghép từ lớp 1 đến lớp 3 với 9 học sinh. Trong lớp có 3 cái bảng quay mặt vào nhau. Vừa cúi xuống đưa từng nét phấn cho học trò lớp 1, thầy Lan lại quay sang nhắc học trò duy nhất của lớp 2 làm bài tập toán, rồi quay sang kiểm tra tập đọc của lớp 3. Cả lớp nhiều khi ồn ào như vỡ chợ, nhưng thầy Lan vẫn cười hiền: "Học đi, học đi các con". Cán bộ dân số đến thống kê số liệu, hỏi ngày tháng năm sinh của các cháu, dân bản đều lắc đầu. Muốn biết ngày sinh của các trẻ chỉ có thể thông qua thầy giáo Lan.

Già bản Vi Văn Quế cho biết: "Thầy Lan tốt bụng lắm, ngoài dạy chữ cho đám trẻ, thầy còn hướng dẫn bà con ăn ở hợp vệ sinh. Thầy Lan là người của bản ta rồi. Khi nào thầy Lan nghỉ hưu thì dân bản ta cho thầy về, còn chưa nghỉ hưu thì ở lại đây với bà con và dạy chữ cho các cháu. Cái chân của thầy giờ cũng dẻo như chân người Huồi Máy rồi mà". Nhìn lũ trẻ ngây thơ bịn rịn thầy Lan không rời và cái cách thầy nói chuyện với các học trò của mình, chúng tôi hiểu vì sao dân bản yêu quý và quyết giữ thầy ở lại đây đến thế.

Không chỉ là một người thầy giáo mà đối với người dân Huồi Máy, thầy Lan còn có vai trò như một già làng. Thầy cũng có tuổi rồi, năm nào nhà trường cũng có kế hoạch đưa thầy ra ngoài điểm trường chính để thầy thuận lợi hơn trong công tác, đi lại, nhưng dân bản đều không chịu. Có năm, trường quyết đưa thầy ra, dân bản Huồi Máy đi bộ mấy tiếng đồng hồ đến nhà thầy Lan "ăn vạ", bảo không có thầy Lan là không cho con đi học. Thầy Lan thương dân, thương học trò nên viết đơn tình nguyện vào dạy ở Huồi Máy suốt từ đó đến nay.

Ngồi khơi bếp lửa đỏ rực cho nồi nước lá sôi ùng ục, thầy Lan trầm ngâm: "Cuộc sống của người dân ở đây còn nhiều khó khăn, một phần do điều kiện tự nhiên, một phần do phong tục, tập quán, nếp sống, nếp nghĩ tồn tại cả trăm năm rồi. Cái nghèo, cái khó bó chặt lấy suy nghĩ nên không mấy ai biết quan tâm đến việc học hành của con cháu mình. Bố mẹ ở tít trong rừng, bọn trẻ đi học về, kiếm cái gì đó bỏ vào bụng xong thì lăn ra ngủ. Thiếu sách, vở, thiếu sự quan tâm của bố mẹ nên chỉ mỗi mình thầy giáo cũng không thể lo xuể được. Các cháu học hết tiểu học, không có điều kiện học tiếp, phải bỏ học ở nhà theo bố mẹ lên rừng. Cái nghèo, cái đói cứ quấn lấy từng phận người... Bà con yêu quý mình nên giữ mình lại. Đó là niềm vinh dự, nhưng cũng là trách nhiệm của người thầy giáo. Tôi xác định sẽ ở lại đây cho đến khi nào đôi chân không trèo được đèo, lội được suối nữa mới thôi" - thầy Lan bộc bạch rất thật lòng.

Viết Lam

Bình luận

Liên kết hữu ích
ZALO