Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Thứ hai, 02/08/2021 12:48 GMT+7

Tìm trong vốn cổ:

Ông cha ta đã xác lập chủ quyền trên vùng biển, đảo như thế nào?

Biên phòng - Từ thời cổ đại đến hiện đại, dân tộc Việt Nam đã xác lập chủ quyền đối với các đảo và bãi đá trên Biển Đông, đặc biệt là hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Bề dày nền văn hóa mà người Việt Nam đã tạo dựng từ ngàn xưa trên Biển Đông, càng chứng minh rõ hơn điều này.

mx1w_6a
Việt Nam là một quốc gia với 3.200km bờ biển, sẽ làm giàu từ biển trong thế kỷ XXI. Trong ảnh: Biển Thuận An, Thừa Thiên Huế. Ảnh: CTV

Đầu tiên, điều này được thể hiện bởi các nền văn hóa biển nổi tiếng thời tiền sử - sơ sử tại Việt Nam như Văn hóa Soi Nhụ, Văn hóa Hạ Long, Văn hóa Sa Huỳnh, Văn hóa Óc Eo... với những di chỉ "đống vỏ sò" hay "cồn sò điệp".

Theo "Lĩnh Nam chích quái", Lạc Long Quân, Thủy tổ dân tộc Việt, là người có công diệt Ngư Tinh vùng Biển Đông để nhân dân được an cư lạc nghiệp. Địa danh liên quan là đảo Bạch Long Vĩ, thuộc chủ quyền Việt Nam, nơi phủ khúc đuôi của Ngư Tinh do Lạc Long Quân lột lấy da. Sau đó, cũng chính Lạc Long Quân đã dẫn các con về miền biển để làm chủ Biển Đông.

Lạc Long Quân đã nói với vợ là Âu Cơ rằng: "Ta là loài rồng, nàng là giống tiên, khó ở với nhau lâu dài. Nay ta đem năm mươi con về miền biển, còn nàng đem năm mươi con về miền núi, chia nhau trị vì các nơi, kẻ lên núi, người xuống biển, nếu gặp sự nguy hiểm thì báo cho nhau biết, cứu giúp lẫn nhau, đừng có quên". Một trăm người con của Lạc Long Quân và Âu Cơ sau này lập ra Bách Việt, riêng người con trai trưởng lập nên Nhà nước Văn Lang. Cách đây gần 2.000 năm, nữ tướng Triệu Thị Trinh cũng khẳng định: "Tôi muốn cưỡi gió mạnh/ Đạp bằng sóng dữ/ Chém cá kình ở Biển Đông" như sự tiếp nối truyền thống giết Ngư Tinh của Thủy tổ Lạc Long Quân.

Việc xác lập chủ quyền trên Biển Đông của Việt Nam được thực thi một cách liên tục. Vào thời các chúa Nguyễn và Tây Sơn, cứ vào tháng 2 Hải đội Hoàng Sa và Bắc Hải (hoạt động khu vực phía Nam đến tận biển Hà Tiên) lại xuất hành gồm 5 chiến thuyền ra Hoàng Sa, Trường Sa thu nhặt hóa vật của tàu bị nạn, tìm kiếm hải vật và ở lại đây đến tháng 8 mới trở về nộp cho triều đình Phú Xuân (Huế).

Theo TS Nguyễn Nhã, trước khi lên ngôi Hoàng đế 1802, Nguyễn Ánh (vua Gia Long) cũng đã đo đạc hải trình ở Biển Đông, trong đó có vùng quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Khi lên ngôi, tháng 7 năm Quý Hợi (1803), vua Gia Long đã cho lập lại Hải đội Hoàng Sa từ thời các chúa Nguyễn. Trong Đại Nam Thực Lục Chính Biên, đệ nhất kỷ có ghi: "Lấy Cai cơ Võ Văn Phú làm Thủ ngự cửa biển Sa Kỳ, sai mộ dân ngoại tịch lập làm Đội Hoàng Sa".

Đến năm 1816, vua Gia Long đã "long trọng treo tại đó lá cờ của xứ Đàng Trong" (theo bài viết của Giám mục Ta-béc). Sai-gơ-nô, một cận thần của vua Gia Long, cũng đã viết trong hồi ký rằng: "Đến năm 1816, đương kim Hoàng đế đã chiếm hữu quần đảo ấy". Sau đó, cùng với Hải đội Hoàng Sa, vua Gia Long đã "thiết lập một trại quân nhỏ để thu thuế và bảo trợ người đánh cá Việt Nam".

Đến nay, chúng ta vẫn thấy được điều này qua Bản tấu trình của Bộ Công, về việc đi khảo sát đo đạc ở Hoàng Sa trong Châu bản triều Nguyễn, ngày 2 tháng 4 nhuận năm Minh Mạng thứ 19 (1838); tư liệu Quan Bố chính sứ tỉnh Quảng Ngãi là Đặng Đức Thiệm tấu trình, xin trừ các hạng thuế trên thuyền đi phục vụ các công vụ ở Hoàng Sa trong Châu bản triều Nguyễn, ngày 19 tháng 7 năm Minh Mạng thứ 19; Sắc chỉ triều Nguyễn (năm Minh Mạng thứ 15 - 1834) liên quan đến Đội Hoàng Sa của tộc họ Đặng, xã An Hải (Lý Sơn, Quảng Ngãi) được lưu giữ hơn 170 năm qua, hay hình ảnh Cửu đỉnh của triều Nguyễn có khắc quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.

Bên cạnh đó, cũng phải kể đến hai tờ Châu bản có bút tích Ngự phê của vua Bảo Đại nhà Nguyễn (trị vì từ năm 1926 đến năm 1945) viết trên giấy cỡ 21,5 x 31cm, với nội dung liên quan đến việc ban thưởng cho các cá nhân, tổ chức có công trong việc gìn giữ quần đảo Hoàng Sa, do nhà nghiên cứu Phan Thuận An lưu giữ. Một tờ văn bản khác được lập năm Quý Hợi 1743 (cách đây hơn 250 năm) của làng Mỹ Lợi, được viết trên giấy dó, có nội dung xử lý một vụ kiện giữa phường Mỹ Toàn (nay là làng Mỹ Lợi) và phường An Bằng (nay là làng An Bằng) về việc nộp thuế vỏ tàu khai thác sản vật liên quan đến Hải đội Hoàng Sa...

Đặc biệt, việc đưa vào sách giáo khoa "Khởi đồng thuyết ước" dùng trong các trường học thời Tự Đức, thể hiện bằng hình vẽ và ghi chú đầy đủ về Hoàng Sa, Trường Sa thuộc Việt Nam, được xem là tư liệu có giá trị chứng minh mạnh mẽ, về chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam trên Biển Đông.

Theo Thô-mát Bao-cea, một nhà buôn người Anh đến Đàng Trong trong thời điểm năm 1695 - 1696, lực lượng thủy quân dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chu có đến 200 chiến hạm, mỗi chiếc có từ 16 đến 22 khẩu đại bác, 500 chiến thuyền nhỏ từ 40 đến 44 tay chèo, 100 chiến thuyền lớn từ 50 đến 75 tay chèo.

Nhờ vào lực lượng thủy quân hùng mạnh này, quân đội của chúa Nguyễn Phúc Lan đã đánh bại một đội tàu của Hà Lan ở cửa Eo (cửa Thuận An, Huế) vào năm 1644. Không chỉ đánh thắng tàu chiến Hà Lan, hải quân chúa Nguyễn còn đánh thắng tàu chiến Anh sang gây hấn, quét sạch mọi loại giặc biển đến từ Trung Quốc, In-đô-nê-xi-a, Thái Lan... Hệ thống phòng thủ bờ biển được thiết lập dọc theo chiều dài đất nước, hàng ngàn hòn đảo lớn nhỏ trên biển, kể cả Hoàng Sa, Trường Sa đều được thiết lập chủ quyền và canh phòng cẩn mật.

Việc làm chủ Biển Đông đã được Nhà nước phong kiến và nhân dân ta coi trọng. Chẳng hạn, vào ngày 15 tháng giêng năm 1776, dưới thời Tây Sơn, Cai hợp phường Cù Lao Ré (đảo Lý Sơn) là Hà Liễu, đã làm đơn trình bày rõ xin lập lại hai Hải đội Trường Sa và Quế Hương để "ứng chiến" với kẻ xâm phạm: "Bây giờ, chúng tôi lập hai Hải đội Trường Sa và Quế Hương như cũ, gồm dân ngoại tịch được bao nhiêu xin làm sổ sách dâng nạp, vượt thuyền ra các đảo, cù lao ngoài biển tìm nhặt vật hạng đồng thiếc, hải ba, đồi mồi được bao nhiêu xin dâng nạp. Nếu như có tờ truyền báo, xảy chinh chiến, chúng tôi xin vững lòng ứng chiến với kẻ xâm phạm. Xong việc rồi chúng tôi xin tờ sai ra tìm báu vật cũng thuế quan đem phụng nạp".

PGS.TS Đỗ Bang, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, kiêm Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử tỉnh Thừa Thiên Huế, nhận định: "Không chỉ trên giấy tờ mà qua thực tiễn từ chủ trương, phương thức điều hành của triều đình Huế, đã mang lại hiệu quả to lớn trong việc quản lý Hoàng Sa, Trường Sa. Hằng năm, triều Nguyễn đều cho vẽ bản đồ, kiểm kê tài nguyên, đo đạc hải trình và cắm cọc tiêu tại Hoàng Sa, Trường Sa".

G.Ba-râu trong cuốn "Một chuyến du hành đến xứ Nam Hà 1792-1793" đã ghi lại một bảng thống kê thú vị về quân đội của Nguyễn Ánh: Tổng quân số 139.800 người, riêng hải quân có 26.800 người. G.Ba-râu còn ghi thêm về việc "hiện đại hóa" hải quân của Nguyễn Ánh: "Ông đã cho đóng ít nhất 300 pháo thuyền lớn hoặc loại thuyền dùng chèo, 5 thuyền có cột buồm và một chiến hạm đúng theo kiểu tàu châu Âu. Với lực lương hải quân như thế, việc quản lý và thực thi chủ quyền trên Biển Đông của Nguyễn Ánh và triều Nguyễn sau này, đã phát huy tác dụng lớn.

Như vậy, từ thời cổ đại đến hiện đại, các dân tộc sinh sống trên đất nước Việt Nam đã bao phen ngang dọc, chiếm lĩnh và xác lập chủ quyền từ lâu đối với các đảo và bãi đá Biển Đông, chứ không phải là người Trung Quốc. Chẳng hạn, 4 tập Atlas "Trung Quốc địa đồ" và "Trung Quốc bưu chính dư đồ" do Trung Quốc phát hành vào các năm 1908, 1919 và 1933 chứng minh biên giới cực Nam của Trung Quốc chỉ giới hạn đến quần đảo Hải Nam, không có hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.

Luật Biển Việt Nam đã được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua vào ngày 21-6-2012, gồm 7 chương, 55 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-2013, trong đó, chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được khẳng định từ Điều 1 của luật này. Luật Biển Việt Nam hoàn toàn phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, mà Việt Nam là một trong 107 nước tham gia đầu tiên. Luật Biển Việt Nam được thông qua cùng ngày với việc Trung Quốc tuyên bố thành lập phi pháp thành phố Tam Sa, bao trùm toàn bộ các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Nguyễn Văn Toàn

Bình luận

ZALO