Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Thứ bảy, 24/07/2021 03:16 GMT+7

Những người anh em “nhỏ bé”

Biên phòng - Vùng biên giới phía Bắc Việt Nam là một bộ phận lãnh thổ trọng yếu của nước ta, đồng thời là cửa ngõ của con đường bộ từ phía Bắc hướng xuống vùng Đông Nam Á và từ phía Tây khai thông ra biển Thái Bình Dương. Đặc điểm địa hình của vùng này có thể nói là sự nối dài của các dòng sông, dải núi vùng Vân Nam, Quý Châu, Quảng Tây tạo nên một dải liền mạch về địa lý "núi liền núi, sông liền sông''.

Bài 9: Sau bóng núi Giăng Màn

Bài 10: Nề nếp Bố Y


Chính vì địa hình có sự tiếp nối như vậy nên các tỉnh biên giới phía Bắc cũng là nơi giao thoa, tiếp nhận các đoàn người thuộc các dân tộc phương Bắc di cư xuống phía Nam và trở thành một phần trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Lịch sử ghi nhận sự có mặt người Bố Y trên đất Việt chỉ mới trên 100 năm, muộn hơn so với nhiều dân tộc khác ở khu vực phía Bắc. Song với nề nếp chuẩn mực, phong tục truyền thống tiến bộ nên cộng đồng người Bố Y tạo được nhiều dấu ấn tốt đẹp trong việc hòa nhập với các dân tộc bản địa đến trước đó và góp thêm nhiều bản sắc văn hóa độc đáo.

Được các nhà ngôn ngữ học xếp vào ngữ hệ Tày - Thái, với nhiều tên gọi như: Chủng Chá, Trọng Gia, Tu Dí, Tu Dìn, Pu Nà... người Bố Y hiện có dân số khoảng trên dưới 3.000 người. 1/3 số đó hiện vẫn sống tại vùng đất Tổ, thuộc địa phận xã Quyết Tiến, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang ngày nay, số còn lại phân bố rải rác tại các xã thuộc huyện Mường Khương, Xi Ma Cai, tỉnh Lào Cai. Tại các vùng này, họ sống thành từng làng, có từ 10 đến 15 nóc nhà, xen kẽ với các dân tộc khác. Có lẽ cũng do quá trình cộng cư và hòa hợp tộc người diễn ra tự nhiên trong một thời gian dài đã hòa tan nhiều nhóm Bố Y vào các dân tộc khác. Họ tự nguyện trở thành các cá thể trong cộng đồng các dân tộc Tày, Nùng, Giấy... Theo khảo sát riêng địa bàn tỉnh Hà Giang, hiện chỉ còn có người Bố Y ở xã Quyết Tiến, xã Thuận Hòa là còn nói tiếng Bố Y, số còn lại đa số chuyển sang nói tiếng Quan Hỏa, Tày, Nùng, Mông, Dao... Ngay cả vốn văn hoá dân gian của đồng bào như truyện cổ tích, thần thoại, dân ca cũng đang ngày càng bị mai một... Theo ông Nguyễn Trùng Thương, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh thì hiện chỉ còn khoảng trên 20% người Bố Y hiểu được nội dung dân ca, chữ viết và tiếng nói cổ của dân tộc mình, còn lớp trẻ hầu như không biết. Bài cúng thần Ruộng của người Bố Y bao năm nay vẫn lưu truyền trong các thế hệ, thể hiện tinh thần yêu lao động của bà con Bố Y. "Ruộng người khác chết thành vùng. Ruộng của mình không cho chết thành vùng. Ruộng người ta mọc nhiều cỏ. Ruộng của mình không để cỏ mọc đầy. Ruộng năm ngoái không tốt, thì năm nay cho tốt. Ruộng năm ngoái chưa nên, thì năm nay cho nên...". Có lẽ chính bởi sự cần cù, chịu khó cộng với kỹ thuật canh tác nông nghiệp khá cao nên làng xóm của người Bố Y rất trù phú. Ngoài ra, đồng bào rất có kinh nghiệm nuôi cá. Cứ đến mùa mưa, họ ra sông vớt trứng cá và bắt cá lớn để thả vào ao hoặc ruộng, nuôi một thời gian rồi đánh bắt dần phục vụ nhu cầu thực phẩm hằng ngày của gia đình.
8jax_19a-1.JPG
Nghệ nhân Ngũ Khởi Phượng và ước vọng bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc.
Tiếng nhị réo rắt đưa chúng tôi vượt qua một quãng đường dài từ đầu bản đến cuối bản, nơi có căn nhà của nghệ nhân Ngũ Khởi Phượng và Dương Đức Khoan - những người được bà con nơi đây và các cán bộ văn hóa đặt cho cái tên trìu mến là "người giữ lề cho bản". "Lề" ở đây là lề lối, là nề nếp gia phong, là lối sống, cách nghĩ của người Bố Y đã được các thế hệ nối tiếp nhau truyền giữ. Cụ Phượng cùng với cụ Khoan đang đau đáu ước mơ biên soạn cuốn "Từ điển Bố Y" để lưu truyền lại chữ viết của dân tộc mình cho con cháu mai sau. Cụ Khoan tâm sự: "Tiếng Bố Y bây giờ chỉ có lớp người già chúng tôi nói thôi, mà người già cũng không còn nhiều. Con cháu ra ngoài nói tiếng Kinh, về nhà nói chuyện với nhau bằng tiếng Nùng, tiếng Dao. Chúng nó quên tiếng Bố Y rồi. Chúng tôi muốn nói chuyện với các con thì phải nói theo chúng nó". Còn cụ Phượng thì tâm đắc với những bài dân ca, điệu nhị, điệu trống đồng mang khát vọng no ấm, bình yên của dân tộc mình.

Lo ngại rằng tiếng nói, chữ viết và những nét đẹp văn hóa của tổ tiên rồi đây sẽ chỉ còn trong hoài niệm, cụ Khoan và cụ Phượng bàn nhau tìm cách dạy con cháu tiếng nói của dân tộc mình. Tranh thủ những buổi tối rảnh rỗi, hai ông lại tổ chức một lớp học, vừa dạy tiếng, vừa dạy hát dân ca cho bọn trẻ trong thôn. Ngoài ra, thông qua đám trẻ, hai ông vận động gia đình chúng cùng nói tiếng Bố Y trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày... Cuốn "Từ điển Bố Y" đã được biên soạn hơn 1.000 từ với một trật tự sắp xếp rất khoa học theo vần Alphabet với một sự dụng tâm rất lớn, thể hiện ý thức bảo tồn văn hóa dân tộc mãnh mẽ và nhiệt thành. Từ những việc làm của cụ Phượng, cụ Khoan, thiết nghĩ trong khi những nhà nghiên cứu đang đau đầu với bài toán bảo tồn và phát triển văn hóa cộng đồng thì chính những người con của bản này đã tự tìm tòi và từng bước lưu giữ lại những đặc trưng văn hóa cho các thế hệ con cháu mai sau bằng những cách hết sức giản đơn, gần gũi với cuộc sống. Để thấy rằng vai trò của những người có uy tín trong cộng đồng có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc thay đổi nhận thức, thái độ của cộng đồng đó.

Bên cạnh đời sống vật chất tương đối ổn định, người Bố Y còn có những nét văn hóa truyền thống hết sức tốt đẹp. Bộ nữ phục Bố Y có một nét đẹp riêng ở gam màu lạnh, lối tạo hoa văn bằng sáp ong trên váy và chiếc yếm dài trước ngực. Song sự đồng hóa cũng đang diễn ra rất mạnh mẽ. Điều dễ nhận thấy là dường như trang phục của người Bố Y sử dụng trong các lễ hội đã thay đổi theo thời gian. Nếu như trước đây, người phụ nữ Bố Y mặc váy xòe như váy của phụ nữ người Mông thì ngày nay, họ ăn mặc như người Nùng cùng địa phương. Riêng phụ nữ nhóm Tu Dí ăn mặc theo kiểu người Hán, nhưng áo có ống tay rời. Cụ Phượng thở dài nói rằng, kiếm được bộ trang phục truyền thống của dân tộc mình bây giờ không dễ. Việc dệt vải, vẽ sáp ong và thêu chỉ màu quá khì khu và mất nhiều thời gian, tốn kém tiền bạc nên các phụ nữ trẻ không mấy mặn mà. Bà con vốn chẳng ưa trang phục của người Tàu may bằng vải sợi hóa học, lại nghĩ nó không phân hủy được khi theo người xuống mồ, có nghĩa là nó không theo mình về thế giới bên kia được. Lòng người già buồn như tiếng nhị đưa ma.

Từ Quản Bạ, vượt dãy Tây Côn Lĩnh mất gần một ngày đường, chúng tôi như tan hết mệt mỏi trong sự hiếu khách của cộng đồng người Bố Y ở xã Thanh Bình, Mường Khương. Hôm đó là ngày mùng 2 tháng 2 âm lịch, món bánh Sú Dụ được những người phụ nữ Bố Y nhóm Tu Dí khéo léo chế biến tan trong miệng tôi vị ngọt nhẹ và thơm mùi nếp mới. Với công thức cầu kì, đòi hỏi nhiều tâm huyết và sự kiên nhẫn nên món bánh này thường chỉ được làm trong ngày đám cưới hay lễ mừng thọ. Chỉ có một số ít người được dạy cách làm món bánh này. Sau này trong thôn bản có công việc thì chính những người này sẽ đảm nhận trách nhiệm làm bếp núc, chế biến và nấu những món ăn ngon truyền thống mang bản sắc của dân tộc cho mọi người trong thôn bản cùng thưởng thức.

Ngồi chưa nóng chỗ, đã thấy bà con mỗi người một cây chổi ra quét bản. Tục lệ này đã có gần trăm năm, phát tích từ câu chuyện về vị thần Tống Sỏng Chu đã hướng dẫn dân bản làm lễ xua đuổi bệnh tật ra khỏi bản, đồng thời, trừ khử xú khí để con ma bệnh không có nơi trú ngụ. Đến ngày mùng 2 tháng 2 năm ấy, cả làng khỏi hết dịch bệnh, mọi người khỏe mạnh trở lại và vật nuôi cũng khỏi ốm, lại ăn uống bình thường. Từ đó, cứ đến ngày này, người dân lại tổ chức lễ quét làng vâng theo lời truyền dạy và hướng dẫn của thần Tống Sỏng Chu.

Không giỏi làm ruộng nước như những anh em đồng tộc nơi cổng trời Quản Bạ, những bản Bố Y thuộc nhóm Tu Dí trên địa bàn Mường Khương chủ yếu sống bằng nghề trồng ngô và một số loại cây cao sản khác phục vụ chế biến thức ăn gia súc. Thượng tá Trần Quốc Khải, Đồn trưởng Đồn BP Mường Khương cho biết, dân tộc này làm ăn, sinh sống khá thuần hậu và ít xảy ra các vấn đề về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn biên giới. Đặc biệt, văn hóa truyền thống của bà con Bố Y cũng là một trong những niềm tự hào về bản sắc văn hóa của Mường Khương.

Vẫn biết địa hình và thời tiết Mường Khương khắc nghiệt và thuộc một trong 61 huyện nghèo nhất cả nước, song con số nói lên tỷ lệ đói nghèo khá cao của người Bố Y mà Thượng tá Trần Quốc Khải cho biết khiến chúng tôi không khỏi chạnh lòng. Khảo sát của Ủy ban Dân tộc Chính phủ cũng chỉ ra rằng, cuộc sống của người Bố Y chủ yếu phụ thuộc vào thiên nhiên nên thu nhập cũng không mấy dư dả. Nhiều cặp vợ chồng không có con, hoặc tỷ lệ trẻ mắc bệnh mất sớm cũng là nguyên nhân quan trọng làm cho dân số Bố Y tăng chậm.  Ngay cả việc học hành của con em người Bố Y cũng còn nhiều điều cần phải bàn. Dẫu Sở Giáo dục và Đào tạo Lào Cai đã chỉ đạo các trường học tổ chức giảng dạy, hoạt động tập thể, sinh hoạt nội trú.... nhằm đảm bảo cho sự hòa nhập của dân tộc rất ít người với các dân tộc thiểu số khác trong trường... song khó khăn vẫn còn bề bộn.

Lưng lửng chiều, từ sân Đồn BP Mường Khương, chúng tôi nhìn về phía thung lũng Sà Hồ sau dáng núi lô xô đỉnh nhọn. Bản Bố Y nơi đó đang chìm dần vào sơn lam. Vậy mà đi mất gần một giờ đồng hồ mới đến được vùng đất đang nổi danh với giống quýt ngọt mang thương hiệu Mường Khương ấy. Đang vào vụ thu hoạch, đất trời Sà Hồ thơ dịu và tinh khiết mùi tinh dầu nồng nàn từ những gùi quýt vừa hái. Anh Làn Mậu Thành, một chủ trang trại người Bố Y được ghi công là người đã đưa cây quýt về trồng thành công trên thung lũng vốn chỉ có cỏ tranh và đá hộc. Ông chủ trẻ hồn hậu kể lại những tháng ngày khai hoang lập trại vất vả, tự mày mò, áp dụng kĩ thuật trồng cấy học được từ những ngày đi làm thuê cho người Trung Quốc trên đất núi quê mình. Giờ đây, cây quýt Sà Hồ của người Bố Y đã lan sang các thôn bên cạnh và cho năng suất cao. Hiện nay ở Mường Khương, ngoài khu vực thị trấn, được sự hỗ trợ của Chương trình 30a, nhân dân ở các xã Thanh Bình, Nậm Chảy ven biên giới cũng phát triển trồng các loại cây ăn quả có múi với diện tích lên tới 60ha quýt ngọt và hơn 50ha chanh trái vụ. Hợp với khí hậu, thổ nhưỡng địa phương nên cây phát triển tốt. Chính quyền huyện đang có kế hoạch hình thành vùng cây ăn quả có múi tập trung với diện tích lên tới 300ha để xóa đói, giảm nghèo bền vững cho người dân, hứa hẹn biến "đất khát" Mường Khương trở thành miền hoa thơm quả ngọt.

Chia tay cộng đồng Bố Y, Tu Dí trên cổng trời Quản Bạ và xứ sở Mường Khương, nhớ lại những lời tâm huyết bà con, trộm nghĩ rằng rất cần có một chiến lược lâu dài để giúp đỡ bà con phát triển kinh tế, bảo tồn bản sắc dân tộc. Để nề nếp Bố Y sẽ mãi là một câu chuyện đẹp về truyền thống, đạo lí làm người, cách đối nhân xử thế trên những vùng đất biên cương xa xôi quanh năm mây trắng.
Bài 11: Miền truyền thuyết Ơ Ru
Phạm Vân Anh

Bình luận

ZALO