Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Thứ năm, 28/01/2021 03:50 GMT+7

Những danh nhân tuổi Tuất

Biên phòng - Trong hơn 2000 năm giữ nước do các vua Hùng tạo dựng đã có khá nhiều chiến sĩ yêu nước, chiến sĩ cách mạng tiêu biểu sinh năm Tuất phấn đấu, hy sinh góp phần bảo vệ đất nước, được cả nước tôn vinh, tri ân, danh thơm lưu giữ vạn xuân.

Trưng Trắc, sinh năm Giáp Tuất (14 sau Công nguyên), quê ở Mê Linh, năm 26 tuổi, bà đã phất cờ khởi nghĩa đánh đuổi Thái thú Tô Định nhà Đông Hán, trở thành Nữ vương đầu tiên của nước ta.

Lý Công Uẩn, sinh năm Giáp Tuất (974) ở làng Cổ Pháp (Bắc Ninh). Năm 1009, vua Lê Long Đĩnh (Ngọa triều) cuối nhà Tiền Lê chết, Lý Công Uẩn được trăm quan tôn lên ngôi Hoàng Đế - Vua Lý Thái Tổ. Năm Canh Tuất (1010) đã dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long. Nhà Lý tồn tại đến năm 1225

Nguyễn Chích, sinh năm Nhâm Tuất (1382) ở Đông Sơn (Thanh Hóa). Thủa nhỏ phải đi ở đợ, làm thuê kiếm sống, lớn lên ông phò tá Lê Lợi đại thắng giặc Minh, sánh ngang tầm vóc với Nguyễn Trãi đương thời.

Thân Nhân Trung, sinh năm Mậu Tuất (1418), quê huyện Yên Dũng (Bắc Giang), là một con người trung hiếu. Dù chậm đỗ đạt, ông vẫn được vua Lê Thái Tông trọng dụng, phong chức “Phó Đô nguyên súy”. Ông có câu nói bất hủ: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”, khi viết bài ký đề tên Tiến sĩ Khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại bản thứ ba: “Nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu rồi xuống thấp”

Vua Lê Thánh Tông, sinh năm Nhâm Tuất (1442). Năm 1460 (18 tuổi) lên ngôi Hoàng Đế, năm 1496 băng hà. Ông để lại nhiều thành tích đặc biệt xuất sắc trên nhiều lĩnh vực, trong đó có Bộ Luật Hồng Đức hoàn chỉnh, nhiều tiến bộ nhất trong lịch sử luật pháp thời phong kiến nước ta.

Nguyễn Công Trứ, sinh năm Mậu Tuất (1778) ở Xuân Quang, Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Trong hàng chục năm phò vua (triều Nguyễn) trị quốc, an dân, chiến tích xuất sắc tiêu biểu của ông là việc ông chiêu mộ dân nghèo đến khai khẩn vùng đất hoang sơ ven biển từ Ninh Bình đến Thái Bình, để cày cấy bảo đảm cuộc sống, không đi làm giặc cướp bóc. Vua Minh Mạng đã cử ông làm Dinh điền sứ, được vua Tự Đức phong ông là “Uy Viễn Tướng công” khi đã hồi hưu. Đến thời vua Thiệu Trị ông bị phủ nhận mọi công lao, cách hết chức tước do bọn gian thần đố kỵ gây nên.

Hoàng Hoa Thám, sinh năm Mậu Tuất (1862), quê ở Yên Thế (Bắc Giang). Ông là thủ lĩnh của nghĩa quân chống Pháp cùng dịp vua Hàm Nghi xuất bôn ra Quảng Trị - Hà Tĩnh phát động chống Pháp theo chiếu Cần Vương. Năm 1913 ông bị bọn tay sai của Pháp ám hại.

Bùi Bằng Đoàn, ông quê ở Hà Đông, sinh năm Bính Tuất (1886). Ông làm quan đến chức Thượng thừa Bộ Hình (triều Nguyễn). Cách mạng Tháng Tám thành công, ông là một trong các cố vấn của Hồ Chủ tịch, được bầu vào Quốc hội khóa I, trở thành Trưởng ban Thường trực Quốc hội cho đến khi tạ thế năm 1955.

Tống Duy Tân, sinh năm Mậu Tuất (1838), quê vùng Nghệ Tĩnh. Ông tích cực hưởng ứng phong trào Cần Vương chống Pháp, trở thành thủ lĩnh phong trào này, năm 1892 bị địch bắt và xử tử, thọ 54 tuổi.

Nguyễn Thị Minh Khai, sinh năm Canh Tuất (1910), tại Nghệ An. Năm 19 tuổi, bà hoạt động cách mạng tại Trung Quốc, là nữ đảng viên đầu tiên của Đảng, học tại Đại dọc Phương Đông, là thành viên trong Đoàn Đại biểu của Đảng Cộng sản Đông Dương dự Đại hội 7 của Quốc tế Cộng sản. Bị Pháp bắt và xử tử hình năm 1941.

Nguyễn Hữu Thọ, sinh năm Canh Tuất (1910) tại tỉnh Chợ Lớn (nay là thị trấn Bến Lức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An). Ông là một luật sư, chính khách Việt Nam. Giai đoạn 1976-1980, ông là Phó Chủ tịch nước Việt Nam và Quyền Chủ tịch nước Việt Nam (giai đoạn từ 30-3-1980 đến 4-7-1981), sau đó là Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Việt Nam). Trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, ông là Chủ tịch đầu tiên của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Ông mất năm 1996, thọ 86 tuổi.

Tân Nhân

Bình luận

ZALO