Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Thứ sáu, 24/09/2021 04:16 GMT+7

Tìm trong vốn cổ:

Những bậc hiền tài đi sứ giữ nghiêm quốc thể

Biên phòng - Từ buổi dựng nước, cha ông ta luôn có ý thức bảo vệ đất nước không chỉ bằng củng cố tiềm lực quốc phòng, mà còn bằng chính sách ngoại giao mềm dẻo nhưng kiên quyết, không để mất đất đai, cương vực của Tổ quốc và thể diện quốc gia.

Mạc Đĩnh Chi - Lưỡng quốc Trạng nguyên

Vâng mệnh vua Trần năm 1308, Mạc Đĩnh Chi đi sứ nhà Nguyên, trong lần đi ấy có một sứ thần nước khác dâng vua Nguyên một chiếc quạt rất đẹp, vua liền bảo sứ thần Đại Việt và Cao Ly làm thơ vịnh chiếc quạt. Mạc Đĩnh Chi làm xong trước đưa vua xem. Đọc xong, vua Nguyên gật gù khen và phê chữ Y (ôi) trở xuống bốn chữ "Lưỡng quốc Trạng nguyên". Để thử tài sứ thần nước Nam, vua Nguyên ra câu đối: Nhật hỏa, vân yên, bạch đán thiêu tàn ngọc thỏ (Mặt trời là lửa, mây là khói, ban ngày đốt cháy mặt trăng).

Vế đối này, vua Nguyên kiêu hãnh tự cho mình là mặt trời, coi nước Nam là mặt trăng, ban ngày mặt trăng bị mặt trời thiêu cháy. Ý nói nước Nam sẽ không tránh khỏi bị nhà Nguyên thôn tính. Mạc Đĩnh Chi bình tĩnh đáp lại: Nguyệt cung, tinh đạn, hoàng hôn xạ lạc kim ô (Trăng là cung, sao là đạn, chiều tối bắn rơi mặt trời).

Câu đối vua Nguyên ra đã hay, nhưng vế đối của Mạc Đĩnh Chi cũng chẳng kém và sát với cảnh mặt trời ban ngày, mặt trăng ban đêm, lại vừa nói lên được mặt trăng cũng không chịu thua mặt trời. Ý nói nước Nam không chịu thua nhà Nguyên. Vua Nguyên nghe xong biết mình bị trả miếng rất đau, nhưng rất kính phục tài năng của sứ thần nước Nam. Vua bèn thưởng rượu ngon, vàng lụa và phong cho Mạc Đĩnh Chi là "Lưỡng quốc Trạng nguyên". Nghĩa là Trạng của cả hai nước.

Trong thời gian sang sứ, người Nguyên tỏ ý chê tiếng nói của sứ bộ nước Nam líu ríu như tiếng hót chim chích (quých thiệt) nên mới đọc giễu ông: Quých tập chi đầu đàm Lỗ luận, tri chi vi tri, bất tri vi bất tri, thị tri (vế đối có 5 chữ tri, có nghĩa: Chim chích tụ đầu cành đọc Luận ngữ, biết nói là biết, không biết nói là không biết, ấy là biết). Cái khó của vế đối là dùng toàn chữ trong sách Luận ngữ, lại nhiều từ tri và chi được lặp đi lặp lại, vừa tạo nên âm điệu líu lo như chim chích hót, đồng thời cũng tỏ ý nhại lại tiếng nói người Nam.

Mạc Đĩnh Chi đối lại cũng dùng toàn chữ trong sách Mạnh Tử: Oa minh tri thượng độc Châu thư, lạc dữ thiểu nhạc lạc, lạc dữ chúng nhạc lạc, thục lạc? (vế đối có 5 chữ lạc, có nghĩa: Ếch lên trên bờ ao đọc sách Mạnh Tử, vui cùng ít người vui nhạc, vui cùng nhiều người vui nhạc, đằng nào vui?). Câu đối đáp vừa rất chỉnh, vừa tỏ rõ sự hiểu biết thông minh kiến thức sách thánh hiền, vừa có ý mỉa mai quan nhà Nguyên như con ếch ộp ngồi trong ao không biết gì!

Quan nhà Nguyên biết là dại nên không dám chê bai gì nữa.

Phùng Khắc Khoan đấu tranh bỏ lệ cống người vàng cúi mặt

Phùng Khắc Khoan được vua Lê Thế Tông và chúa Trịnh cử đi sứ hai lần vào năm 1597 và 1606, theo "Lịch triều hiến chương loại chí", trong chuyến đi sứ năm 1597, ông đã đấu tranh bỏ được lệ cống người vàng cúi mặt của nhà Mạc trước đây. Chuyện là, khi đến Yên Minh, Lễ bộ đường trách về việc người vàng nước ta đem cống không theo mẫu cũ làm cúi mặt, nên ngăn cản không cho sứ vào chầu.

Phùng Khắc Khoan bèn đáp lại: Nhà Mạc cướp ngôi, danh nghĩa là nghịch, nhà Lê khôi phục, danh nghĩa là thuận. Nhà Mạc dâng người vàng cúi mặt thay mình là may lắm. Còn như nhà Lê bao đời làm công thần, thì kiểu người vàng ngửa mặt, bao đời còn có. Nay lại bắt theo như lệ nhà Mạc, thì lấy gì để khuyến khích chiêu an và trừng phạt? Việc đến tai vua Minh, cuối cùng nhà Minh lại theo thể thức cũ của nhà Lê. Nhận xét về chuyến đi này, sách Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn viết: "Phùng Khắc Khoan phụng mệnh đi sứ, tuổi đã ngoài 70, không những biện bạch quang minh chính đại, dạt dào được mệnh lệnh của vua, mà còn làm lành mạnh được thể thống trong nước".

Lê Quý Đôn không khoan nhượng với cách gọi miệt thị

Năm Kỷ Mão (1759), Lê Quý Đôn được triều đình cử làm Phó sứ sang nhà Thanh, theo sử sách, khi sứ bộ nước Nam đi qua Ngô Châu, quan Hiệp trấn là họ Lý tiếp đãi. Trong khi tiếp đãi, quan họ Lý hỏi ông, tên vua nước Nam là gì? Câu hỏi của viên quan họ Lý có nhiều hàm ý. Bởi lẽ, con cái không gọi tên cha mẹ để tỏ lòng tôn kính và lễ hiếu, người xung quanh hoặc họ hàng cũng thường lấy tên con để gọi thay bố mẹ. Người dân lại càng không dám gọi tên quan mà chỉ gọi chức, tước quan của họ, huống chi lại là vua. Vua là thiên tử, ai gọi tên húy của vua không những là đại bất kính, mà còn phạm tội bất trung, có thể bị xử.

Lê Quý Đôn vừa muốn giữ hòa khí đôi bên, vừa muốn tỏ rõ mình là người biết lễ nghĩa, là bầy tôi trung thành, nên đã trả lời viên quan họ Lý: Xét từ xưa tới nay, chưa bao giờ thấy trong việc tiếp đãi sứ thần mà lại hỏi tên vua. Đại nhân không nên hỏi, mà sứ thần tôi cũng không nên trả lời. Như vậy, đại nhân và tôi mới đúng phép làm bề tôi! Nghe xong, viên quan họ Lý tỏ lời xin lỗi Lê Quý Đôn.

Năm 1760, Lê Quý Đôn và sứ bộ Trần Huy Mật lên đường sang Trung Hoa làm lễ tuế cống và cáo ai. Sau khi làm xong nhiệm vụ được giao, đoàn từ Kinh đô Trung Quốc về nước. Khi đoàn về đến tỉnh Quảng Tây, tại đây, Lê Quý Đôn đã đòi quan nhà Thanh không được dùng chữ Di quan (quan tước mọi rợ). Sau khi đi sứ về, đoàn sứ bộ đã có tờ khải trình (báo cáo) lên chúa Trịnh và được Lê Quý Đôn ghi trong "Bắc sứ thông lục".

Chuyện là, khi đoàn sứ bộ đến Quảng Tây xin quan thủ hiến tỉnh họ Hùng, gửi tờ tư về nước ta báo tin công sứ về tới đó, trước khi sứ khởi hồi và gửi tờ báo quan coi đạo Tả Giang, cấp phu và ngựa cho những viên đi trước của sứ bộ sẵn sàng về nước. Sứ bộ sắp qua cửa quan để vào chào quan Nam Ninh thì họ theo lệ cũ mà xướng rằng: Di quan kiến - tức quan rợ ra mắt. Đoàn sứ bộ đã có đầu văn (văn bản) gửi nơi quan phủ nói rõ thắc mắc, đề nghị quan phủ gửi tờ sức cho các đạo phủ rằng: Phàm trong nghi lễ, văn thư sẽ thôi dùng chữ di quan.

Ngay hôm ấy, quan bố chính họ Diệp truyền gặp đoàn sứ bộ tới công đường tiếp chuyện, thăm hỏi sứ bộ chuyện đi đường ra sao. Sau đấy, vị quan này cho biết, văn thư đề nghị của sứ bộ rất hay, nhưng người xưa nói rằng: Vua Thuấn ở Gia Phùng là người rợ bên sông, Vua Văn Vương sinh ở Kỳ Chu, là người rợ bên Tây, nên chữ "Di" vốn không phải để khinh nhờn quý quốc. Nay sứ thần đã đem việc này trình bày bằng văn thư, được quan tuần phủ bằng lòng, đã gửi công văn truyền cho quan coi đạo Tả Giang và các phủ, dặn rõ từ nay về sau không được xưng hô chữ "Di" mà phải nói là Cống sứ. Vì thế, sứ thần nước Nam có thể về tâu với nhà vua để được rõ.

Sau đó, đoàn sứ thần đến chào, từ giã quan Nam Ninh về nước, họ cho biết: Văn thư của sứ thần nước Nam đã được chuyển lên quan Tổng đốc Quảng Đông và ban hành cho các nơi tờ văn báo, từ nay trở đi sẽ bỏ chữ "quan rợ".

Như vậy, việc đấu tranh chống gọi nước ta là mọi rợ đã thắng lợi. Trong các công văn, giấy tờ sau đó, nhà Thanh không còn gọi sứ bộ nước ta là "Di quan", mà phải gọi là "An Nam cống sứ". Đây là một biểu hiện của lòng tự tôn dân tộc, khi sứ bộ nước ta đi ra nước ngoài được ghi chép trong sử sách. Đáng lưu ý là, vào thế kỷ 18, câu văn viết bằng chữ Nôm được xen kẽ giữa những chữ Hán, cũng là sự khẳng định tính dân tộc của người nước Nam.

Theo chuyện kể, có một lần đi sứ đến Quảng Tây, Lê Quý Đôn tiếp kiến Tổng trấn Quảng Tây là Chu Bội Liên. Viên quan họ Chu muốn làm giảm uy tín nước Nam, cho rằng nước Nam chưa văn minh nên kiến trúc xây thành quách kém. Chu Bội Liên nói với Lê Quý Đôn rằng: An Nam đã học phong tục giáo hóa của Trung Hoa, nhưng không thấy nước Nam có thành quách gì cả, hẳn là không có nhân tài xây dựng?

Nghe vậy, Lê Quý Đôn bèn viện ngay sách "Hoàng Minh thông ký" của người Trung Hoa đời Minh có ghi chép rất rõ: Quan thái giám nước Nam là Nguyễn An đã xây dựng các cung điện ở Yên Kinh vào năm Vĩnh Lạc đời Minh. Sau đó, Lê Quý Đôn còn cho Chu Bội Liên biết: Sách "Hán chí" của Trung Hoa đã ghi nước Nam có 60 thành trì, Hai Bà Trưng đã lấy được 65 thành trì. Đến đời Minh lại xây thêm 20 thành trì nữa, nhưng trong giao chiến với Lê Lợi, thành trì bị san bằng mất cả.

Sở dĩ phải san bằng là vì, các quan Hiệp trấn nơi biên ải của quý quốc thường hay tham lam mà sinh sự, tràn sang xâm lấn, nếu các thành trì họ chiếm được thì chúng tôi mất cả thành lẫn đất và dân. Chi bằng san bằng thành đi, lập nhiều chiến lũy nhỏ, có dân giữ lũy thì quân, quan các ông không biết tìm nơi nào mà đánh, như vậy chẳng hay hơn đắp thành sao? Nghe xong, Chu Bội Liên cười giảng hòa làm lành với sứ thần nước Nam.

Lê Quý Hoàng

Bình luận

ZALO