Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Chủ nhật, 06/12/2020 07:32 GMT+7

Nhớ bác Tô Hoài

Biên phòng - Vậy là đã tròn 2 năm nhà văn Tô Hoài từ giã chúng ta để đi vào cõi vĩnh hằng (6/7/2014 - 6/7/2016). Tôi mê ông từ khi mới lẫm chẫm bước chân đến trường. Đó là dịp tháng 4-1967, tình cờ tôi đọc được một truyện ngắn viết cho trẻ em của ông. Truyện có tên là Ò... ó... o...

xhw0_20
Nhà văn Tô Hoài. Ảnh: Trần Đăng Khoa

Truyện kể một cậu bé ở thành phố, về nghỉ hè ở nhà bà ngoại. Bà sống ở quê. Suốt ngày cậu chạy nhảy, vui chơi với bao trò chơi thú vị mà ở thành phố không có. Cái truyện gợi cho tôi viết bài thơ Ò...ó...o..., với nội dung khác hẳn. Và để tỏ lòng biết ơn ông, sau tên bài Ò... ó... o... tôi đã ghi một dòng rất trang trọng: "Kính tặng chú Tô Hoài", dù lúc ấy, tôi chưa từng gặp mặt ông và ông cũng chẳng biết tôi là cái thằng bé cha vơ chú váo nào...

Tô Hoài là một nhà văn lớn, với số lượng tác phẩm văn học thật đồ sộ. Ông viết đủ các thể loại: Từ tiểu thuyết, truyện vừa, bút ký, ký sự, truyện ngắn, hồi ký, tự truyện, tiểu luận phê bình, truyện viết cho thiếu nhi, cho đến cả các bài báo ngắn, các bài điểm sách chỉ bằng một... bàn tay trẻ con. Tô Hoài thực sự là nhà văn chuyên nghiệp. Nghĩa là ông hoàn toàn sống được bằng nghề văn. Ngồi đâu, ông cũng viết được văn, kể cả trong những lúc hội họp.

Có người còn kể rằng, trong một hội nghị quốc tế sang trọng, Tô Hoài ngồi ghế Chủ tịch đoàn điều hành cuộc họp. Người ta ngạc nhiên khi thấy ông cứ lật sổ viết nhoay nhoáy. Tưởng Tô Hoài ghi biên bản hội nghị, hóa không phải. Ông đang viết tiểu thuyết. Không ít tác phẩm nổi tiếng của Tô Hoài đã ra đời trong những hoàn cảnh đặc biệt như thế. Đó là cắt nghĩa cho ta hiểu vì sao Tô Hoài có được một “vốn liếng” đồ sộ với hơn 100 đầu sách. Đó là một con số kỷ lục mà không phải nhà văn lớn nào trên thế giới cũng có thể đạt tới được.

Tô Hoài là nhà văn không có dấu hiệu của tuổi già. Ông có một trí tuệ tỉnh táo và thông minh đến mức... "tinh quái". Ông cũng là trường hợp duy nhất ở Việt Nam: Là một nhà văn lớn, một học giả lớn, với kiến thức khổng lồ, mà trình độ học vấn chỉ ở bậc... Tiểu học. Nói đúng ra, như ông kể với tôi, ông mới chỉ học hết lớp... ba, rồi đi kiếm sống. Cuộc sống chính là trường học lớn của ông. Ông bảo: "Đã là nhà văn thì phải có nhân vật và chi tiết. Mà chi tiết với nhân vật thì chỉ có ở trong cuộc sống thôi". Đời sống chính là trường học vĩ đại của Tô Hoài.

Trong đời, may mắn sao, tôi cũng đã có dịp sống cùng nhà văn Tô Hoài trong suốt nửa tháng ở nhà sáng tác Đại Lải, Vĩnh Phúc. Đó là dịp Bộ Giáo dục và Đào tạo mời Ban giám khảo cuộc thi viết về nhà giáo và nhà trường. Trong Ban giám khảo, gồm toàn những nhà văn lớn, Tô Hoài cao tuổi nhất, còn tôi lại là gã ít tuổi nhất. Bởi thế, Ban tổ chức đã xếp tôi ở cùng phòng với ông, để giúp ông những việc lặt vặt. Tôi cũng rất khoái vì có dịp được "chiêm ngưỡng" bác... Dế Cụ, cha đẻ của chàng... Dế Mèn.

Tôi rất ngạc nhiên khi Tô Hoài ngủ rất sớm. Chưa đến tám giờ tối, ông đã ngủ rồi. Ngủ hồn nhiên như một... chú bé vậy. Không ngáy, cũng không trằn trọc như một người già. Ông ngủ thẳng một mạch cho đến ba giờ sáng thì lặng lẽ dậy, rồi đi lại êm như một "chú mèo nhung". Ông che đèn để không ảnh hưởng đến người bên cạnh và bắt đầu đọc. Ông đọc rất nhiều, nhưng toàn đọc những tờ báo chuyên ngành rất xa với văn chương.

Ông bảo, ông chỉ nghe Đài Tiếng nói Việt Nam. Đi đâu, ông cũng mang theo cái đài nhỏ. Vậy mà không biết ông thu nạp kiến thức từ đâu. Chạm đến lĩnh vực nào ông cũng biết và biết rất thấu đáo. Ngay cả những cây cỏ quanh ta, như cây phi lao, rảnh bèo tây, hay cỏ lồng vực, ông có thể nói một cách rành rẽ chúng xuất phát từ đâu, xuất hiện ở Việt Nam bắt đầu từ năm nào? Tô Hoài như một "từ điển sống", một "pho sách sống". Ông như cuốn Bách khoa toàn thư mà không viện sĩ nào, không học giả nào có thể sánh được. Tôi đã có dịp tò mò hỏi ông về Hà Nội và rất ngạc nhiên, không ngờ ông hiểu Hà Nội sâu sắc đến thế. Tôi gọi ông là nhà Hà Nội học, dù ông không nghiên cứu.

- Không! Tôi không phải là nhà Hà Nội học - nhà văn Tô Hoài cười - Tôi hiểu Hà Nội thì cũng là hiểu một cách rất tự nhiên thôi. Tôi sinh ở Hà Nội. Hà Nội trước thế nào thì bây giờ tôi thấy nó cũng vẫn như thế...

- Nghĩa là không có gì đổi khác ư?

- Có chứ! Nhưng đó là những khu vực ngoại thành và những khu mới mở, như đường Hoàng Quốc Việt, hay các khu phố mới. Còn các khu phố cũ vẫn thế. Nhà cửa có thể khác tý chút, có tân trang hơn hoặc nâng thêm tầng, nhưng đường phố vẫn vậy. Ở các phố Ngô Quyền, Hàng Khay, Tràng Tiền, Hàng Bài, hay Nguyễn Xí, Đinh Lễ, đầu vỉa hè còn bọc đá xanh. Đấy là vỉa hè xưa, vỉa hè đầu tiên của Hà Nội đấy. Đá bọc vỉa hè là đá lấy từ núi Thầy, núi Trầm. Lý do dùng đá ốp vỉa hè cũng đơn giản, vì dạo ấy ta chưa có nhiều xi-măng. Cả hệ thống cống ngầm bên dưới cũng thế, cũng vẫn là hệ thống cũ. Vì thế, bây giờ mưa, đường Hà Nội ngập úng là tất nhiên, vì quá tải. Hệ thống cống ngầm xưa chỉ đủ phục vụ cho mấy vạn người. Ta còn thấy những nắp cống tròn còn nguyên cả dòng chữ Marseille. Đó là nắp cống đúc từ bên Pháp, rồi mang sang Việt Nam.

Hồi bấy giờ, ở phố Quán Thánh, ngay cạnh đền Quán Thánh bây giờ, Pháp còn mở Công ty Sacric. Đấy là Công ty gạch ngói Đông Dương. Khu sản xuất khá rộng, đến mấy nghìn mét vuông. Đất sét đóng gạch lấy ở Quán La, bên kia Tây Hồ, rồi dùng thuyền chở sang. Từ Yên Phụ đến Nghi Tàm xưa là đất trồng dâu, trồng ngô. Còn khu dưới bãi là vùng An Dương, Chương Dương, Long Biên bây giờ...

- Bác vừa nói đến phố cổ. Tôi thì lại ngờ ngợ rằng, hình như Hà Nội mình, trừ các chùa chiền và Văn Miếu, một công trình kiến trúc có tuổi thọ ngót một nghìn năm, sau được trùng tu, tôn tạo qua rất nhiều đời, còn thì chúng ta không có phố cổ mà chỉ có phố cũ. Đó là Ba mươi sáu phố phường xưa và những khu phố có biệt thự Tây như bác vừa nói. Bởi vì những khu phố đó có rất nhiều nhà chỉ xây cách đây chừng hơn một trăm năm thì sao lại gọi là phố cổ được?

- Nói Hà Nội không có phố cổ thì cũng không hẳn - nhà văn Tô Hoài nói - Hà Nội không có khu phố cổ nhưng có nhà cổ. Ví như nhà số 38 Hàng Đào và 87 Mã Mây. Hai ngôi nhà cổ này đã được Pháp đầu tư tài trợ để bảo tồn. Có thể rất dễ dàng nhận ra nhà cổ. Nhà cổ có hai cửa: Cửa trước dành cho chủ nhà đi; cửa sau dành cho gia nhân, đầy tớ sử dụng hoặc chuyển phân rác và đồ phế thải ra ngoài.

Hà Nội xưa có những vùng riêng biệt. "Thành thị" không phải là một từ chung đâu, đó là hai khu cụ thể."Thành" là nơi vua quan ở, còn "Thị" là nơi ở của dân chúng, chủ yếu là dân buôn bán, phục vụ cho "Thành". Vua quan trong thành thỉnh thoảng ra đường, nên thường quy định dân chúng chỉ được ở nhà trệt, không làm nhà gác, hoặc nếu có nhà gác thì không được trổ cửa sổ hoặc làm ban-công chìa ra đường, vì vua quan đi ở bên dưới. Không ai được đứng trên đầu vua, bởi thế, nhà cổ không có ban công hoặc cửa sổ trổ ra đường.

- Thế còn những phong tục tập quán ở Hà Nội?

- Hà Nội không có phong tục tập quán gì cả - nhà văn Tô Hoài giải thích - Trước đây, Hà Nội là đất nhượng địa cho Tây. Một anh đi ăn cắp chẳng hạn, nếu bị xử ở Hà Nội có thể sẽ rất nhẹ, nhưng nếu xử ở Hà Đông, trong tòa án An Nam thì nặng hơn nhiều. Hà Nội theo luật lệ riêng của Tây. Muốn làm gì cũng phải xin phép Tây. Ngay cả việc dạy học tư, cứ có từ năm học sinh trở lên là đã phải xin phép. Muốn có hội hè đình đám là phải tập hợp rồi. Tây rất ngại dân chúng tụ tập đông. Nó sợ ta gom quân đánh nó. Vì thế, đình đám chỉ có thể tổ chức được ở các làng quê. Mà không phải làng quê nào cũng có hội đâu. Hội hè rước xách còn phụ thuộc vào sự tích của các ông Thánh ở làng. Không phải làng nào cũng có ông Thánh, nên không thể cứ rước xách tùm lum được.

- Nếu nói ngắn gọn về tính cách người Hà Nội thì bác sẽ nói thế nào?

- Hà Nội là do dân tứ phương lập lên. Người Hà Nội gốc có lẽ chỉ là mấy anh đánh cá ở sông Tô Lịch. Mà Tô Lịch chỉ còn là một phế tích. Chẳng có ai sống ở Hà Nội được đến mười đời. Vì thế, muốn hiểu tính cách người Hà Nội, ta phải tìm hiểu tính cách chung của người Việt Nam, rồi nghiên cứu cá tính người thành thị thì mới ra tính cách người Hà Nội. Tất nhiên, người Hà Nội có nét hào hoa phong nhã, nhưng đấy không phải tận gốc mà là tinh hoa của nhiều vùng đất tạo nên.

Ngắm Thủ đô Hà Nội của chúng ta hôm nay, ta càng thấy nhớ nhà văn Tô Hoài, một Công dân Ưu tú của Thủ đô. Đúng như lời ông nói, ta cần gìn giữ, tu tạo làm sao để có được một thành phố, một Thủ đô văn hóa vừa đẹp, vừa hiện đại lại không làm mất đi những vẻ đẹp xưa cũ.

Trần Đăng Khoa

Bình luận

ZALO