Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Thứ hai, 28/11/2022 08:43 GMT+7

Người Hiệu trưởng gần 20 năm lặn lội với học trò vùng cao

Biên phòng - "Vất vả, khổ cực, lại luôn phải xa chồng, xa con, nhiều lúc tôi cũng nản lòng, muốn bỏ lại tất cả. Thế nhưng, cho đến tận bây giờ, tôi vẫn không thể nào rời xa được học trò vùng biên. Có sợi dây vô hình nào đó cứ níu kéo tôi ở lại với chúng" - Đó là trải lòng của chị Mã Thị Xanh, Hiệu trưởng trường Tiểu học Nặm Nhũng, xã Lũng Nặm, huyện Hà Quảng, Cao Bằng, khi nhìn lại chặng đường gần 20 năm gắn bó với học trò vùng cao.

533x342_10a-1.JPG
Cô và trò trường Tiểu học Nặm Nhũng thăm cột mốc biên giới.

Một buổi tối mưa dày hạt, trong chuyến công tác Cao Bằng, tôi tình cờ được mời dự xem Đội thông tin lưu động của huyện Hà Quảng biểu diễn văn nghệ. Buổi tối mưa rét đó đã mang lại cho tôi cảm giác ấm cúng khi không hẹn mà được gặp rất nhiều thầy, cô giáo ở các cấp học của xã Nặm Nhũng - những người đã và đang mang nhiệt huyết của tuổi thanh xuân để "trồng người" nơi miền biên viễn. Và cô giáo Xanh mà tôi vừa nhắc tới là một trong số đó.

Năm 1997, cô gái trẻ Mã Thị Xanh sau khi tốt nghiệp trường Trung cấp Sư phạm, đã kết hôn với một cán bộ BĐBP. Vợ chồng ở với nhau chưa được ấm chỗ, cô giáo 20 tuổi này đã phải "khăn gói quả mướp" vào nhận nhiệm vụ giáo viên đứng lớp phân trường Lũng Mới, xã Quý Quân, một trong những xã khó khăn bậc nhất của huyện Hà Quảng. "Từ đó, vợ chồng tôi xa nhau tới 6-7 tháng mới được gặp nhau một lần. Chúng tôi chỉ có thể trao gửi nỗi nhớ cho nhau qua những cánh thư" - cô Xanh kể.

Theo lời kể của cô Xanh, ngày ấy, trường Tiểu học Quý Quân chỉ là những ngôi nhà tranh, vách nứa đơn sơ. Từ trường chính vào các điểm trường phải đi bộ từ 2-3 tiếng đồng hồ. Có những đoạn đường, ngay cả ngựa cũng không đi nổi, còn người chỉ có cách bám vào vách đá bò qua. Nơi ở của giáo viên cắm bản chỉ là những túp lều tạm bằng ván ghép, trống hoác. Người dân Quý Quân chủ yếu là đồng bào dân tộc Tày, Nùng, cuộc sống luôn đói khổ nên họ lo ăn hơn lo học chữ. Vì thế, việc đầu tiên của giáo viên cắm bản là đến từng nhà vận động phụ huynh cho con đi học. Việc dạy học cũng không hề dễ, bởi các em đều không biết tiếng phổ thông, thích thì học, không thích thì bỏ đi chơi hoặc khóc đòi về.

Trong tâm khảm, nhiều ký ức đã lùi xa, nhưng cô giáo Xanh vẫn nhớ như in ngày đầu tiên nhận công tác. "Từ trường chính, tôi phải đi bộ 2 tiếng đồng hồ mới tới được Lũng Mới. Không có đường mòn, tôi phải bám vào các mỏm đá men theo triền núi mà đi. Tới nơi, trước mặt tôi là những lớp học tạm bợ, ngôi nhà gỗ dành cho giáo viên ở nằm kề bên xiêu vẹo, cũ nát, có thể sập bất cứ lúc nào. Điện không có, nhà dân thì thưa thớt, hiu quạnh và buồn đến quay quắt. 3 ngày đầu tiên, ngày nào tôi cũng khóc, sau đó thì ốm gần một tháng mới khỏi" - cô giáo nhớ lại - "Thời đó cực khổ vô cùng, ăn uống thiếu thốn, đi lại khó khăn. Khổ nhất là mùa đông. Nhà ở của giáo viên tạm bợ bằng ván ghép không thể ngăn nổi sương giá của vùng sơn cước. Chăn đệm, quần áo của chúng tôi thấm sương ướt nhèm, ngay cả bảng viết cũng bị ướt không viết được. 5 chị em giáo viên chúng tôi tự động viên, giúp đỡ nhau, dần dần tôi cũng quen được với điều kiện sống khắc nghiệt ở đây".

387x399_10b-1.JPG
Chị Xanh trầm ngâm khi nhắc tới những khó khăn, vất vả của giáo viên vùng cao.
Cô Xanh bảo, thương nhất là lũ học trò lúc nào cũng trong tình trạng đói ăn, thiếu mặc. Không ít lần tới thăm nhà học sinh, chị bị sốc và cảm thấy bất lực trước cái nghèo đến cùng cực của người dân nơi đây. "Khi tới nhà một học sinh, tôi vừa đẩy cửa bước vào thì cánh cửa đổ sập luôn. Trong ngôi nhà cũ đó chỉ có mỗi một chiếc giường. Toàn bộ các giác quan trong người tôi như đông cứng lại, sau đó là cảm giác bất lực, bứt rứt khó tả. Tôi vét hết tiền trong túi được mấy chục nghìn đưa cả cho gia đình em. Chứng kiến cuộc sống khổ cực của người dân, tôi càng thương các học trò của mình hơn" - cô giáo Xanh bộc bạch.

12 năm gắn bó với học sinh Quý Quân là quãng thời gian vất vả nhất với rất nhiều biến cố xảy ra đối với người nữ giáo viên vùng cao này. Năm 1999, chị sinh con gái đầu lòng trong hoàn cảnh thập tử nhất sinh. Ba năm sau, chị phải mổ ruột thừa, vết thương chưa lành, chị phải mổ lại do bị dính ruột. Nếu không có nghị lực và lòng nhiệt huyết, có lẽ chị đã không thể trụ nổi ở vùng biên viễn nghèo khổ này. Nhớ lại biến cố trong lần sinh con đầu lòng, cô giáo Xanh cười bảo: "Tôi sống được là nhờ người dân đấy. Hôm đó, tôi trở dạ và vỡ ối lúc nào không biết, đến 3 giờ sáng thì sinh con nhưng lại bị rau cài răng lược. Y tá ở trạm xá không biết xử lý thế nào, họ đặt em bé nằm trên bụng tôi rồi nhờ người dân đưa tôi xuống huyện cấp cứu. Tôi còn nhớ người dân và cả học sinh của tôi đã khiêng mẹ con tôi đi bộ 3 tiếng đồng hồ ra bệnh viện huyện. Ở huyện không xử lý được, họ đưa tôi về tỉnh. May mắn là các bác sĩ cứu được cả hai mẹ con tôi".

Sau khi sinh nở an toàn, chị Xanh lại ôm con về với học trò vùng cao. Ngoài giờ dạy học, chị đi cày ruộng, làm nương, nuôi lợn gà như bao người dân khác để cải thiện đời sống. Thương cô giáo vất vả, người dân thỉnh thoảng lại mang rau, bánh trái vào cho. Lúc con gái còn bé, chị Xanh gửi người dân trông hộ, có gì ăn nấy. Khi con cứng cáp hơn, chị địu con cùng lên lớp. Cuộc sống quá thiếu thốn, khí hậu lại khắc nghiệt, con chị thường xuyên bị đau ốm dẫn tới suy dinh dưỡng nặng. Trong hoàn cảnh như vậy, chị vẫn cố gắng trau dồi kiến thức, tìm phương pháp truyền đạt dễ tiếp thu nhất cho học sinh. Những cố gắng của chị đã được đền đáp khi được công nhận là giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh năm 2002 và 2004.

Có một nghịch lý là cô giáo Xanh trực tiếp dạy dỗ không biết bao nhiêu thế hệ học sinh vùng cao, nhưng lại chưa một ngày được dạy con mình học. Nhắc tới chuyện này, gương mặt chị đượm buồn: "Năm con tôi được 4 tuổi, dù thương con dứt ruột, tôi vẫn phải gửi cháu về ở cùng bố với hy vọng cháu sẽ khỏe hơn. Đến năm 2005, bố cháu đi xuất khẩu lao động, còn tôi đi học lớp giáo dục đặc biệt 6 tháng tại Đại học Sư phạm I Hà Nội rồi lại học tiếp Đại học Sư phạm Thái Nguyên nên phải gửi cháu ở nhà em gái tôi. Từ đó đến nay, cháu luôn phải sống xa cả bố lẫn mẹ. Tôi thương con vô cùng nhưng không thể nào khác được. Cứ cuối tuần, tôi thu xếp công việc về với cháu, tôi dạy cháu làm mọi việc, kể cả cày ruộng, làm vườn... Tôi mừng vì cháu rất ngoan và biết sống tự lập từ rất sớm".

Sau 12 năm ở Quý Quân, cô giáo Xanh chuyển sang dạy học ở trường Tiểu học Sóc Giang, Nội Thôn và bây giờ là Nặm Nhũng. Trên cương vị là Hiệu trưởng, chị làm mọi việc, liên hệ với nhiều tổ chức, cá nhân để chăm lo cho học sinh của mình và các giáo viên trong trường. Nhìn lại chặng đường đã qua, chị Xanh giãi bày: "Càng ở lâu trong nghề, tôi càng thấm thía, thấu hiểu và đồng cảm với những thiếu thốn, khó khăn, vất vả của học trò vùng cao. Tôi mong xã hội quan tâm đầu tư phát triển giáo dục để học sinh miền núi không bị thiệt thòi. Mong sao đời sống của các thầy, cô giáo nói chung, ở vùng cao nói riêng được cải thiện tốt hơn".

Bích Nguyên

Bình luận

ZALO