Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Thứ sáu, 23/07/2021 10:10 GMT+7

Người giữ hồn khèn Mông trên vùng cao Trạm Tấu

Biên phòng - Trong chuyến công tác địa bàn vùng dân tộc thiểu số (DTTS) thuộc tỉnh Yên Bái lần này, chúng tôi may mắn được gặp ông Giàng A Su, sinh năm 1943, người có uy tín trong dân tộc Mông, đang cư trú tại thị trấn Trạm Tấu, huyện Trạm Tấu. Từ lâu, ông được đồng bào các DTTS, đặc biệt là đồng bào Mông trên địa bàn xem như một cây đại thụ, chỗ dựa tinh thần vững chắc của mình. Ông được Nhà nước trao tặng danh hiệu Nghệ nhân dân gian vì đóng góp to lớn trong việc giữ gìn văn hóa, phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc Mông. Đầu năm 2016, ông vinh dự được trao tặng danh hiệu Nghệ nhân Ưu tú.

rt1d_21
 Ông Giàng A Su (bên trái) và tác giả tại Trạm Tấu. Ảnh: Lê Xuân Trình

"Chiếc khèn là linh hồn của người Mông ta" - đó là lời mở đầu câu chuyện của nghệ nhân Giàng A Su với chúng tôi. Ông không biết chiếc khèn có từ bao giờ, chỉ biết từ khi ông sinh ra và lớn lên đã được làm quen với nó, thấy nó được sử dụng và cất giữ cẩn thận ở vị trí trang trọng nhất của ngôi nhà. Chiếc khèn được những người đàn ông Mông sử dụng trong những đám ma để tiễn đưa người đã khuất. Tiếng khèn là sợi dây tâm linh nối người sống với người đã khuất. Chiếc khèn được sử dụng trong dịp Tết đến, Xuân về và những lễ hội quan trọng nhất của người Mông. Những câu chuyện của con người, của trời và đất được kể bằng giai điệu của tiếng khèn làm thấm đẫm lòng người. Tiếng khèn là cây cầu bắc lời tỏ tình đôi lứa của những chàng trai, cô gái dân tộc Mông.

Theo nghệ nhân Giàng A Su, mỗi điệu khèn cất lên đều có "cái lý" của nó, bộc bạch về lý do, nguyên nhân, nguồn gốc của sự vật, hiện tượng, song lại thấm đẫm tình người và đất trời. Nghệ nhân Giàng A Su cũng đã từng nghe kể về sự tích của chiếc khèn được lưu truyền trong cộng đồng người Mông. Chuyện kể rằng, xưa có một người con trai yêu rồi lấy một người con gái, sinh ra 6 người con trai giỏi giang, tháo vát. Lúc đã về già, một hôm, hai vợ chồng đang ở nhà chờ các con đi làm nương về thì bị một cơn lũ bất chợt đổ về cuốn trôi đi mất. Thương nhớ đấng sinh thành, 6 người con thảm thiết khóc lóc suốt 9 ngày, 9 đêm, đến khi giọng bị tắt, họ vào rừng lấy ống trúc về thổi thay cho tiếng khóc. Cảm thương tấm chân tình của những người con hiếu thảo, thần núi đã ban tặng cho họ bí quyết để làm một chiếc khèn, được ghép lại bởi 6 ống nứa với độ dài ngắn khác nhau, tượng trưng cho độ tuổi của 6 anh em, để họ thì thầm vào đó những lời yêu thương, thắm thiết, làm vơi bớt nỗi khổ đau vì mất mẹ, mất cha. Chiếc khèn của người Mông ra đời từ đó.

Đã ở cái tuổi "xưa nay hiếm", nghệ nhân Giàng A Su không nhớ rõ bí quyết làm khèn được truyền dạy trong dòng họ mình tự bao giờ. Chỉ biết rằng, từ đời cụ, đời bố ông rồi đến ông là đời thứ 3 nắm giữ bí quyết này. Cái tâm đau đáu giữ hồn dân tộc qua chiếc khèn bè, khiến ông luôn canh cánh trọng trách truyền nghề và giữ nghề. Theo ông Su, để làm được một chiếc khèn ưng ý phải mất rất nhiều công đoạn. Khèn là nhạc cụ thổi bằng hơi. Khèn được chế tác bằng gỗ cùng 6 ống trúc lớn, nhỏ, dài, ngắn khác nhau. 6 ống trúc dài, ngắn  tượng trưng cho tình đoàn kết anh em. Bên trong các ống trúc đều rỗng. Có một bầu gỗ nối các ống trúc lại với nhau. Trên mỗi thân ống trúc nằm ngang có một lưỡi gà nhỏ bằng đồng. Bên ngoài ống trúc có các lỗ.

Muốn thổi ra âm thanh, người thổi phải dùng hai bàn tay giữ khèn, đồng thời, lấy các ngón tay để điều khiển các lỗ hơi. Hơi thổi vào khèn sẽ xuyên qua lưỡi gà phát ra âm thanh. Thổi vào hoặc hít ra sẽ tạo âm thanh trầm bổng khác nhau. Ống trúc để làm khèn phải được lựa chọn kỹ lưỡng, phải chọn ống trúc già, chắc, đều, đem phơi nắng để đủ độ khô. Quan trọng nhất là khâu khoét lỗ cho lưỡi đồng rồi bịt lại thật khít. Độ cao, thấp, vang ngân của khèn phụ thuộc vào việc chỉnh các lưỡi đồng, mỏng dày và to nhỏ phù hợp. Tùy kỹ năng của người thổi theo hợp âm, hòa âm, đánh chồng âm, vỗ, luyến... mà tạo nên những khúc nhạc thu hút. Âm thanh của khèn vút cao vừa như trách, vừa như hờn giận, vừa như mời gọi và cũng mạnh mẽ như chính cuộc sống của người Mông vậy. Tiếng khèn như một ma lực đầy quyến rũ, vang vọng, nồng nàn giữa đại ngàn có sức lôi cuốn mãnh liệt lòng người như thắng cố, mèn mén và rượu ngô vậy.

"Tiếng khèn là linh hồn, là máu thịt của người Mông ta. Suốt cuộc đời ta gắn với khèn, vui buồn cùng với khèn. Nay ở cái tuổi gần đất xa trời, ta mong muốn thế hệ trẻ, cơ quan Nhà nước hãy giữ lấy tiếng khèn, để nó được vang mãi với núi rừng".

Những lời tâm huyết của nghệ nhân Giàng A Su.

Người chơi khèn giỏi là người vừa biết thổi khèn kết hợp với múa khèn. Người thổi được khèn và biết múa khèn đều phải trải qua một quá trình lao động nghệ thuật bền bỉ, công phu và kiên trì, bởi khi vừa thổi, vừa múa đòi hỏi phải sử dụng nhiều động tác cùng lúc vô cùng phức tạp. Động tác múa khèn rất đa dạng, phong phú. Múa nhảy đưa chân, quay đổi chỗ, quay tại chỗ, vờn khèn, lăn nghiêng, lăn ngửa, múa ngồi xổm, đi tiến, đi lùi theo bốn hướng, mỗi bước tiến, bước lùi làm sao chỉ để chân này chạm gót chân kia. Động tác cơ bản là khom lưng, quay hất gót tại chỗ và quay hất gót di động trên vòng quay lớn rồi thu hẹp dần theo hình xoắn ốc với tốc độ càng nhanh càng điêu luyện. Đối với các bài khèn vui chơi thì động tác nhảy múa mãnh liệt, phóng khoáng và khó hơn như lăn nghiêng, lăn ngửa, đá gà, đá ngựa, nhảy ngồi xổm, tay nọ vỗ vào chân kia, tay kia vỗ vào chân nọ, tiếng vỗ phải kêu mà tiếng khèn vẫn không dứt.

Nghệ nhân Giàng A Su rất vui mừng khi Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch đã quyết định đưa nghệ thuật múa khèn vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, loại hình nghệ thuật trình diễn dân gian năm 2015, vì những giá trị lịch sử, văn hóa và khoa học đặc sắc của nghệ thuật này. Tuy nhiên, ông Su cũng bày tỏ rất nhiều trăn trở và lo lắng, khi mà bản sắc dân tộc này hiện đang có nguy cơ bị mai một, thất truyền hơn bao giờ hết, do giới trẻ hiện nay chỉ quan tâm đến luồng văn hóa ngoại lai hơn là những bản sắc văn hóa dân tộc. Ông lo lắng khi những người như ông mất đi thì ai sẽ là người giữ gìn tiếng khèn Mông.

Ông tâm sự, từ thời làm Bí thư Huyện ủy Trạm Tấu (trước 2005), ông mong muốn xây dựng một xưởng để chế tác chiếc khèn nhằm mục đích phổ biến và lưu truyền cho thế hệ mai sau, nhưng vì nhiều lý do nên không thực hiện được. Hiện nay, mặc dù tuổi đã cao, sức đã yếu, nhưng ông vẫn cố gắng truyền lại bí quyết làm khèn và chơi khèn cho con cháu. Người được ông tin tưởng giao giữ trọng trách này là người cháu gọi ông bằng bác, đó là anh Mùa A Lồng ở xã Bản Mù, Trạm Tấu. Ông vui mừng khi anh Lồng đã làm ra được những chiếc khèn mà ông ưng ý.

Lê Xuân Trình

Bình luận

ZALO