Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Chủ nhật, 06/12/2020 04:39 GMT+7

Người cố vấn đáng kính của đồn biên phòng

Biên phòng - Từ khi lên nhận công tác ở Đồn BP Tả Gia Khâu, tôi có thói quen cứ vào dịp cuối năm lại đi chúc Tết sớm các cụ phụ lão trên địa bàn. Năm nay tranh thủ những ngày nghỉ Tết Dương lịch, người tôi đến thăm đầu tiên là cựu chiến binh Giàng Vần Hồ, nguyên Chủ tịch xã Dìn Chin (Mường Khương, Lào Cai). Từ ngày nghỉ công tác, ông nhường lại cơ ngơi cho con trai út, xin xã một mảnh đất nhỏ ven tỉnh lộ 153 để làm nhà ở. Đây là con đường dẫn sang Si Ma Cai, tuy chưa được rộng thênh thang, nhưng so với nhiều năm trước cũng đã thuận lợi hơn nhiều.

ek3z_20b
Cựu chiến binh Giàng Vần Hồ (giữa) đang trao đổi với cán bộ Biên phòng.

Khi tôi đến, ông đang ngồi bên bếp lửa. Đối với người Mông, bếp lửa không bao giờ tắt suốt mùa Đông. Biết tôi không hút thuốc lào, ông chỉ tôi ngồi xuống rồi mời tôi một chén trà nóng. Năm nay ông không được khỏe, mắt đã mờ đi nhiều, căn bệnh khớp hành hạ đau nhức, đi lại rất khó khăn. Cũng phải thôi, khi con người ta đã bước vào cái tuổi "xưa nay hiếm" thì chuyện yếu đau, bệnh tật cũng là khó tránh khỏi. Chỉ duy giọng nói của ông là vẫn sang sảng, đầy chất lính. Nhìn ông, những câu chuyện về người cựu chiến binh tôi đã nghe nhiều lần lại hiện về.

Người pháo thủ dũng cảm

Năm 20 tuổi, anh thanh niên Giàng Vần Hồ sau nhiều lần xung phong nhập ngũ bị từ chối (vì có hai anh trai đang tham gia chiến trường miền Nam) đã được toại nguyện. Sau 3 tháng huấn luyện, anh được hành quân thẳng vào chiến trường Đường 9 - Nam Lào. Thử thách đầu tiên trên cương vị pháo thủ số 3, hằng ngày tham gia chiến đấu trong mưa bom bão đạn của kẻ thù đã tôi luyện cho Giàng Vần Hồ một ý chí thép, trơ lỳ trước tiếng rú của pháo đài bay B52, tiếng rít của rốc két và cái khắc nghiệt của núi rừng Trường Sơn. Chàng trai trắng trẻo hôm nào bây giờ da đen sạm màu khói súng. Cái tố chất của người Mông giúp anh miễn nhiễm với sốt rét rừng, trong khi cả tiểu đội bị căn bệnh quái ác này hành hạ.

Năm 1972, anh chuyển qua chiến trường Quảng Trị, đúng vào lúc chiến tranh ngày càng ác liệt. Đồng đội lần lượt hy sinh, pháo thủ số 3 Giàng Vần Hồ trở thành hạ sĩ, Khẩu đội phó. Nhiệm vụ ngày càng nặng nề, những trận đánh trong thế cài răng lược, các anh ăn ngủ luôn tại trận địa. Một buổi chiều mùa hè năm 1972, bên bờ sông Ba Lòng, máy bay địch phát hiện trận địa pháo của ta, chúng bắn phá dữ dội. Một quả bom rơi trúng trận địa, Khẩu đội phó Hồ ngất đi, khi tỉnh lại thấy mình nằm trong một hố đất đen nhẻm, tối om. Anh bò lên trận địa, khẩu đội chỉ còn lại một mình, tất cả đã tan vào trong lòng đất. Anh vừa khóc, vừa bới tìm xác đồng đội trong đêm tối, rồi lại ngất... Khi tỉnh lần hai, anh thấy mình đã nằm trong bệnh xá của lữ đoàn, đầu cuốn băng trắng xóa.

Lĩnh “ấn” tiên phong

Mùa xuân năm 1975, trở về quê hương Lào Cai trong niềm vui của ngày chiến thắng, đảng viên trẻ Giàng Vần Hồ được giao nhiệm vụ làm Bí thư Đoàn xã. Mải mê với công tác thanh niên, anh chưa kịp cưới vợ thì chiến tranh biên giới nổ ra. Đối với Hồ, đây là những tháng ngày bận rộn, vất vả, hiểm nguy rình rập; những ngày phải căng ra cùng lãnh đạo xã chỉ huy công an, dân quân xã trực chiến, những đêm giữ chốt, những buổi băng rừng cùng BĐBP truy lùng biệt kích, thám báo.

Chiến tranh đi qua, xã Lồ Sử Thàng sáp nhập vào xã Dìn Chin theo chủ trương chung của Nhà nước. Dấu ấn của cuộc sống mới từng ngày hiện lên trên những xóm thôn, những vạt nương, những cánh rừng biên giới. Cuộc sống của người dân ở đây khó khăn cũng từng bước lùi dần. Bí thư Đoàn xã Giàng Vần Hồ trở thành Phó Chủ tịch, rồi Chủ tịch xã. Làm cán bộ vùng cao là chấp nhận những vất vả, khó khăn.

Ngay như việc xã Lồ Sử Thàng với người Nùng chiếm đa số khi sáp nhập với xã Dìn Chin của người Mông cũng có tâm tư này nọ, cái bụng của nhiều người còn hồ nghi. Nhưng Chủ tịch xã Giàng Vần Hồ (người Mông) với Bí thư Đảng ủy xã Lùng Tà Chéng (người Nùng) đã cho mọi người thấy tinh thần đoàn kết quan trọng và lớn lao như thế nào. Cặp bài trùng này trong 10 năm làm Bí thư, Chủ tịch xã đã góp phần không nhỏ đưa lại diện mạo của xã Dìn Chin đổi mới như ngày nay. Khi các ông đến tuổi nghỉ hưu, lãnh đạo huyện còn luyến tiếc mãi.

Là pháo thủ thì nhiệm vụ đầu tiên là phải mở đường cho bộ binh tiến lên, là Chủ tịch xã thì điều quan trọng phải xông pha vào những việc khó, những nơi nguy hiểm - ông thường tâm niệm như vậy. Nhớ lại thời ông còn đương chức, trong khu vực thôn Na Cổ có mâu thuẫn, Chủ tịch xã xuống đầu tiên. Trẻ con trong xã bỏ học, Chủ tịch xã đi vận động từng nhà cho con em đến trường. Hằng tháng, công việc bận rộn nhưng ông vẫn yêu cầu dân quân xã bố trí cho ông ít nhất một buổi tham gia đi tuần tra biên giới với anh em Biên phòng. Có Chủ tịch xã đi cùng, các chiến sĩ Biên phòng như có thêm động lực để hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ biên giới của Tổ quốc.

45fe_20a
Cán bộ, chiến sĩ Đồn BP Tả Gia Khâu giúp dân sửa chữa nhà cửa. Ảnh: N.T. Mạch

Cựu chiến binh "3 trong 1"

Trưởng thành qua chiến tranh, khi trở thành lãnh đạo xã thì tuổi đã lớn không có điều kiện học hành nhiều nên ông luôn tận tâm tận lực với công việc để bù đắp những hạn chế của mình. Ông tâm sự: Cán bộ là phải làm việc thật sự, nói phải đi đôi với làm, cán bộ nói được mà không làm được thì cũng bằng không, nguy hiểm hơn là dân không tin, ảnh hưởng đến uy tín của tập thể. Ông cũng căn dặn cán bộ xã và anh em Biên phòng: Mình phải gần dân, mọi công việc nên giải quyết tại thôn, có gần dân thì họ mới nói cho mình nghe, mới giải quyết được nguồn gốc của mọi vấn đề. Lời dặn của người lính già chúng tôi nghe sao mà thấm thía.

Đối với BĐBP, trong thời kỳ nào, nhiệm vụ vận động quần chúng để bảo vệ biên giới cũng luôn được đặt lên hàng đầu. Bất kỳ một chiến sĩ Biên phòng nào khi đến địa bàn công tác có 3 đối tượng đáng tin cậy là các già làng, các cựu chiến binh và cán bộ xã, kể cả đương chức hay đã nghỉ.

Giàng Vần Hồ là cựu chiến binh "3 trong 1", ông có tình cảm đồng đội của người lính, có kinh nghiệm của một cán bộ xã kỳ cựu và đặc biệt là có uy tín của một già làng từ chính tấm gương mẫu mực của ông. Từ khi nghỉ hưu đến nay, ông trở thành cố vấn cho lãnh đạo xã, một chức danh không chính thức nhưng lại được cán bộ xã hết sức trân trọng. Trong xã có chuyện gì khó giải quyết, lãnh đạo xã đều đến "xin ý kiến" của ông. Trong địa bàn có vấn đề gì khó khăn, cán bộ đồn Biên phòng tìm đến "Txir" Hồ (theo tiếng Mông, Txir có nghĩa là bố) để được giúp đỡ.

Những lần như vậy, tôi thấy ông rất vui, nhiệt tình chỉ bảo cho anh em từng vấn đề nhỏ. Đối với ông bây giờ, có lẽ điều làm ông buồn nhất là sức khỏe không cho phép để có thể thi thoảng được đi tuần tra biên giới cùng các chiến sĩ Biên phòng. Nhưng mong ông hãy yên tâm, biên giới giờ đã hòa bình, hữu nghị, nhiệm vụ bảo vệ biên cương đã có đồn và xã cùng nhân dân chung tay bảo vệ, cuộc sống tuy còn nhiều khó khăn nhưng sẽ ngày một tốt lên.

"Như con ngựa phi trên đỉnh núi

Chân người Mông không biết mỏi

bao giờ!"

Bất giác, tôi nhớ đến hai câu thơ của một nhà thơ nổi tiếng tặng bác Cư Hòa Vần, nguyên Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội khóa X mà thấy đúng với "Txir" Hồ quá! Đôi chân ấy đã đi qua chiến tranh, từ chiến trường Nam Lào đến chiến trường Quảng Trị, từ biên giới Dìn Chin đến những bản làng xa xôi trên biên giới. Đôi chân ấy đã đi qua những tháng năm tuổi trẻ, rồi những ngày gian khó nhất. Để rồi giờ đây tuy không còn mạnh mẽ nhưng chưa bao giờ mỏi, vẫn là chỗ dựa vững chắc cho thế hệ sau.

Nguyễn Trọng Mạch

Bình luận

ZALO