Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Thứ bảy, 13/08/2022 01:08 GMT+7

Ngựa trong chiến trận và tâm thức người Việt

Biên phòng - Ngựa là con vật có sức mạnh, nhanh nhẹn, trung thành với chủ nên trong thời cổ đại, ngựa được xem là một loại "vũ khí" lợi hại. Chẳng thế mà có từ ghép "binh mã" (người ngựa) chỉ lực lượng chủ yếu của các trận chiến.

g1ze_23-1.jpg
Cưỡi ngựa trong mảng chạm gỗ ở đình Hạ Hiệp.
Có lẽ ở nước ta, con ngựa tham gia chiến trận được biết đến đầu tiên là con... ngựa sắt, xuất hiện trong truyền thuyết Phù Đổng Thiên Vương. Sau khi đánh tan giặc Ân, ngài Thánh Gióng đã cưỡi ngựa sắt phi về trời. Truyền thuyết còn nói tới An Dương Vương cùng con gái Mỵ Châu vì "Nỏ thần vô ý trao tay giặc, nên nỗi cơ đồ đắm bể sâu" mà leo lên mình ngựa chạy giặc Triệu Đà.

Sử sách nước ta nhiều lần ghi lại quân dân Đại Việt đã thu được nhiều ngựa chiến trong các lần bảo vệ biên giới. Dưới thời Vua Lý, vào năm Giáp Dần, tức niên hiệu Thuận Thiên thứ năm (1014), tướng của người Man bên kia biên giới là Dương Trường Huệ và Đoàn Kính Chí đem 20 vạn người vào cướp vùng giáp biên nước ta. Châu mục châu Bình Lâm (nay là vùng Tuyên Quang) là Hoàng Ân Vinh tâu lên, Vua Lý Thái Tổ sai Dực Thánh Vương đem quân đi đánh, chém đầu hàng vạn tên giặc, bắt sống nhiều ngựa không kể xiết. Vào thời điểm này, nước ta đang muốn hòa hoãn với nhà Tống, bèn đem 100 con ngựa chiến lợi phẩm của người Man vùng giáp biên giới nước ta, sang biếu nhà Tống (Đại Việt sử ký toàn thư).
Bên cạnh việc đánh trận, ngựa còn là món quà quý báu để ngoại giao giữa các tù trưởng với triều đình Đại Việt. Ví dụ, châu Vị Long (nay là huyện Chiêm Hóa, Tuyên Quang) dâng ngựa trắng. Có những khi triều đình Đại Việt lại ngoại giao biếu xén với phương Bắc bằng những con ngựa trắng để giữ hòa hiếu. Xe ngựa biểu hiện của sự quý phái là một trong 9 thứ vua ban (Cửu tích). Ngựa cũng là phương tiện biểu thị lễ nghi. Năm Mậu Thân (1128), vì trong nước có quốc tang nên vua cấm người trong nước cưỡi ngựa trong dịp này. Nhiều nơi trọng yếu trong kinh đô như các cửa Hoàng Thành, Đại Hưng (Cửa Nam ngày nay) còn có tấm bia ghi rõ chữ "Hạ Mã" để ai qua đó cũng phải xuống ngựa.

Trong cuộc kháng chiến chống quân Minh của Lê Lợi, hình ảnh của ngựa lại được nhắc đến với chuyện Lê Lai cứu chúa. Năm 1418, khi mới khởi nghĩa, thế giặc đang mạnh, quân ta đánh thành Tây Đô (nay là thành nhà Hồ, huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hóa). Lê Lai đổi áo cho Lê Lợi, sau đó cưỡi ngựa phi vào trận địa quân giặc xưng là "Chúa Lam Sơn" và bị bắt, xử bằng hình phạt thảm khốc. Nhờ vậy, quân địch chủ quan, nghĩ Lê Lợi đã chết. Do đó mà quân ta được nghỉ ngơi và tập trung cho những trận đánh lớn hơn.

Theo sách Lam Sơn thực lục, Lê Lợi đóng quân ở Lam Sơn. Năm Canh Tý (1420), quân Minh kéo đến vây hãm rất đông, bị nghĩa quân phục kích, chém đầu giặc khá nhiều và bắt được hơn trăm con ngựa. Năm Nhâm Dần (1422), nghĩa quân bị vây hãm bốn mặt ở núi Chí Linh, thiếu lương thực, chỉ ăn măng, rau, củ. Khi đó, chủ tướng Lê Lợi đã thịt cả con ngựa mình đang cưỡi cho quân lính ăn.

Năm Giáp Thìn (1424) có một trận đánh thắng lớn là trận Trà Lân, chém được nghìn đầu giặc Phương Chính, bắt được hơn trăm con ngựa. Sau đó, Lê Lợi đã chỉnh đốn ngựa, voi và quân lính chuẩn bị đánh tiếp. Năm Bính Ngọ (1426), Lê Lợi lại bắt được 500 ngựa chiến trong trận vây hãm thành Đông Đô (Hà Nội ngày nay). Sau đó, nhà Minh đem 5 vạn quân và 1.000 ngựa để ồ ạt cứu viện, lại bị chém chết 3.000 tên, thu 500 ngựa trong trận Pha Lũy. Tiếp đó, tướng Liễu Thăng, Mộc Thạch đem 20 vạn quân và 3 vạn ngựa chiến xâm lược, lại bị thua trận ở ải Chi Lăng, Liễu Thăng bị chém đầu, quân ta bắt được hơn 5.000 ngựa chiến.

Trong các trận đánh thời Lê-Mạc, sử sách ghi khá nhiều lần các tướng cưỡi ngựa chỉ huy quân sĩ xông vào trận đánh, chứng tỏ vào thời điểm này, ngựa chiến khá lợi hại, chỉ vua và tướng mới được cưỡi. Bên cạnh ngựa, voi cũng là một con vật được dùng để đánh trận, vì thế, trong các cuộc chiến thường có ngựa và voi ra trận cùng nhau. Sử cũ còn ghi lại Tiết chế Trịnh Tùng đã đem 5.000 quân tinh nhuệ, voi khỏe và ngựa bọc sắt vào góc Tây Bắc thành Thăng Long để đánh Mạc Mậu Hợp. Qua đó, các sử gia ngày nay mới biết được có giai đoạn trong trận mạc, ngựa được mặc áo giáp sắt là vậy.

Ngoài việc tham gia trận mạc, ngựa còn là phương tiện lợi hại để đưa tin, có những "ngựa trạm" để chuyên làm việc này, nhất là trong thời Nguyễn.
vucx_23b-1.jpg
Tượng quan hầu dắt ngựa trong lăng đá Dinh Hương ở Hiệp Hòa, Bắc Giang.

Trong tâm thức người Việt, ngựa quý phải là ngựa trắng, ngựa mà 4 chân có cựa như sử sách ghi lại. Trong truyền thuyết còn nói đến "voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao" mà Sơn Tinh dâng lên Vua Hùng trong dịp kén rể. Ngựa trắng còn được tôn lên làm thần và được thờ ở đền Bạch Mã nay vẫn còn ở phố Hàng Buồm, Hà Nội. Có thể, tích truyện này xuất phát từ một dòng trong sách Đại Việt sử ký toàn thư:  "Trong tàu ngựa nhà vua, có con ngựa trắng, phàm khi vua sắp đi thì nó tất hí lên trước. Vua đặt tên là Bạch Long thần mã". Dần dà, dân Thăng Long đã coi đền Bạch Mã rất thiêng, là một trong "tứ trấn Thăng Long" nổi tiếng.

Đôi khi, người xưa còn vẽ những con Long Mã có đầu rồng, mình và vó ngựa. Long Mã chính là một loại ngựa thần, hình thù như con rồng, trên lưng lại đội một bản đồ mà bản đồ đó chính là sách quý mệnh trời để trị vì thiên hạ. Theo tâm thức dân gian của người Việt, Long Mã chính là hóa thân của một con vật trong tứ linh (Long, Lân, Quy, Phượng). Đó là con lân, có mặt trên đỉnh cột của nghi môn, đầu góc mái, các mảng chạm trổ đình chùa. Đặc biệt, những con Long Mã thường chiếm vị trí trung tâm của nhang án có niên đại vào thế kỷ XVIII, XIX. Có thể hình dung diện mạo của một con Long Mã như sau: Đầu rồng với chi tiết mắt quỷ, miệng lang, sừng nai, tai thú, trán lạc đà, cổ rắn, thân thú, chân hươu, móng ngựa, đuôi bò. Dẫu thể hiện bằng ngôn ngữ tạo hình khác nhau ít nhiều, nhưng con Long Mã nào cũng phải có cái nét dễ nhận thấy của ngựa.

Ngựa còn được người Việt thờ trong những bức tranh giấy thờ cặp ngựa hồng, ngựa trắng. Vào trong các ngôi đình, người ta còn thấy những tượng ngựa gỗ đang đứng trên 4 bánh xe bày trong gian Tiền Tế. Chưa kể trong nhiều ngôi đình còn có tượng ngựa đá bày giữa sân trông khá oai nghiêm.
Trong các đền chùa ở Việt Nam vào thời Lê-Mạc, có hình ảnh loại ngựa có cánh được trang trí trên đồ gốm, trên gạch. Vốn là một động vật được coi là nhanh nhẹn, lại được nhân quần chắp cho đôi cánh, thì đúng là "phi như bay" mà nhiều dân tộc coi ngựa là biểu tượng của tia sáng.


Trong quan niệm về thế giới tâm linh, sau khi quá cố, trước đây, những ông Quận công triều Lê Trung Hưng thường xây cho mình những lăng đá. Trong khuôn viên lăng phải có ngựa đá đôi con, quan hầu bằng đá cũng đôi vị. Những lăng đá, ngựa đá đẹp nhất vẫn còn y nguyên như hồi mới tạc, thường thấy ở huyện Hiệp Hòa, Bắc Giang.

Trong kho tàng di sản vật thể và phi vật thể của người Việt, ngựa là một trong những con vật mang nhiều giá trị thực dụng, nhất là trong trận mạc, nhưng cũng là một con vật thiêng mang nhiều dáng vẻ khác nhau, dễ tạo hình, đẹp và ấn tượng.
 
PGS.TS Trịnh Sinh

Bình luận

ZALO