Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Chủ nhật, 29/11/2020 02:52 GMT+7

Ngậm ngùi "số phận" cây cà phê ở vùng cao A Lưới

Biên phòng - Những vườn cà phê ở một số xã thuộc huyện vùng cao A Lưới (tỉnh Thừa Thiên Huế) ngày nào còn xanh tốt, giờ đây đang như một "bãi chiến trường" với ngổn ngang gốc, cành cà phê bị chặt bỏ. Hình ảnh này khiến ai cũng phải ngậm ngùi, tiếc nuối, bởi suốt một thời gian dài, cà phê luôn được coi là loại cây mang theo ước vọng đổi đời của không ít hộ người dân tộc Cơ Tu, Pa Cô nơi đây.

k52z_15
Một vườn cà phê ở xã Nhâm bị đốn hạ. Ảnh: Đặng Tuyết

Hẩm hiu "thân phận" cà phê

Thời điểm năm 2000 - 2001, cà phê được xem là loại cây công nghiệp ưu tiên hàng đầu trong chiến lược chuyển đổi cơ cấu cây trồng của huyện vùng cao biên giới A Lưới. Thực tế cho thấy, cây cà phê trồng ở A Lưới dễ sống và phát triển nhanh, sai quả và sản phẩm quả tươi thu hoạch có chất lượng cao. Thời điểm đó, Công ty TNHH một thành viên Vinacafe Quảng Trị hỗ trợ đầu tư giống, phân bón, còn các hộ dân góp đất sản xuất, cây cà phê ở A Lưới phát triển với tốc độ khá mạnh.

Chỉ trong vài năm, diện tích cây cà phê tại các xã Hồng Bắc, Hồng Thượng, Hồng Thái, Nhâm… đã lên tới hàng trăm héc-ta, trở thành vùng trồng cà phê lớn nhất tỉnh Thừa Thiên Huế. Ngỡ cây cà phê, nếu không đủ "phép màu" để đổi đời nhanh chóng cho đồng bào Pa Cô, Cơ Tu ở vùng đất nổi tiếng gian khó giữa đại ngàn Trường Sơn, thì chí ít cũng góp phần không nhỏ vào việc cải thiện đời sống còn nhiều khó khăn của họ, bởi một khi cho khai thác, nó sẽ trở thành nguồn hàng xuất khẩu có giá trị, nhưng thực tế lại không được như vậy.

Đúng một thập kỷ sau (năm 2010), do giá cà phê "xuống dốc không phanh", vì làm ăn thua lỗ, Công ty TNHH một thành viên Vinacafe Quảng Trị nộp đơn xin được làm thủ tục phá sản. Và toàn bộ diện tích trồng cà phê do doanh nghiệp này "liên doanh" với dân được bàn giao cho Nông trường cà phê A Lưới. Tuy nhiên, nông trường này cũng chỉ duy trì hoạt động đến năm 2012 thì bị giải thể, khiến người trồng cà phê ở các xã vùng cao A Lưới lao đao.

Đến vùng trồng cà phê ở A Lưới những ngày này, dễ dàng bắt gặp rất nhiều vườn cà phê đã bị đốn hạ. Tại xã Hồng Bắc, nhớ lại thời hoàng kim của cây cà phê trên bản làng mình, anh Hồ Thọ, nhà ở bản Tân Hối kể, trước kia, người dân Hồng Bắc chủ yếu trồng bắp, mì, lúa nước, lúa rẫy. Những cây trồng này chưa đủ giúp người dân ở đây vượt qua cái đói lúc giáp hạt, nói gì đến chuyện làm giàu. Từ khi cây cà phê được đưa về trồng ở Tân Hối, chỉ dăm năm sau đã cho thu hoạch, nhiều gia đình đã có thu nhập cao từ loại cây này.

Đề cập đến nguyên nhân chặt bỏ cây cà phê, anh Thọ cho hay: "Cây cà phê đã gắn bó với chúng tôi cả chục năm nay, giờ "bỏ thì thương, vương thì tội". Bởi hiện tại, quả cà phê tươi đang rớt giá thảm hại, chỉ còn 3 ngàn đồng một ký mà cũng chẳng có người mua, trong khi vẫn phải đầu tư phân bón, công chăm sóc. Không chỉ nhà tôi mà nhiều gia đình ở Hồng Bắc đã quyết định phá bỏ vườn cà phê…".

Tại bản A Bả, thuộc xã Nhâm, sau khi giải thích về "động cơ" phá bỏ vườn cà phê của gia đình, anh Hồ Tiếp bày tỏ sự lo lắng: "Thực tế, tiền thu hoạch từ việc bán cà phê mấy vụ vừa qua không đủ để gia đình tôi trả chi phí phân bón và thuê nhân công thu hái. Điều mà chúng tôi lo lắng nhất là diện tích trồng cà phê đều là đất sản xuất của gia đình góp vào quỹ đất của Công ty TNHH một thành viên Vinacafe Quảng Trị, sau này được chuyển giao cho Nông trường cà phê A Lưới quản lý. Nay nông trường bị giải thể, toàn bộ tài sản được kê biên thanh lý, người dân coi như mất đất sản xuất…".

Những bài học cần rút ra

Trở lại câu chuyện Công ty TNHH một thành viên Vinacafe Quảng Trị đầu tư vào sản xuất, chế biến cà phê trên địa bàn huyện A Lưới, với mong muốn cải thiện đời sống của hơn 700 hộ dân người dân tộc Pa Cô, Cơ Tu đã góp đất sản xuất với doanh nghiệp để trồng cà phê với tổng diện tích 340ha (chiếm hơn phân nửa tổng số diện tích trồng cà phê của toàn huyện). Cũng từ đó, cây cà phê bắt đầu khẳng định được vị trí trên đất A Lưới. Thế nhưng, chỉ được một thời gian, cây cà phê lâm vào tình trạng "sống dở, chết dở", do đầu ra chất lượng sản phẩn thấp, mặt khác không bù đắp được chi phí sản xuất, người trồng bỏ hoang diện tích cà phê đã tốn bao công sức chăm sóc qua nhiều năm.

Hiện tại, chưa có thống kê đầy đủ số hộ và diện tích cà phê còn tồn tại trên địa bàn các xã Hồng Bắc, Hồng Thượng, Hồng Thái, Nhâm, nhưng theo ước tính, chỉ còn vài chục héc-ta, còn phần lớn là phá bỏ hoặc để hoang hóa. Điều đáng quan ngại là người dân đang tiếp tục chặt bỏ cây cà phê để chuyển sang trồng loại cây khác. "Gia đình tôi đã phải bỏ bao công sức khai hoang mới có được gần một héc-ta để trồng cà phê. Thật buồn là sản phẩm làm ra, giá giảm một cách thê thảm, nhưng vẫn không có người mua, chịu không được nên phải phá bỏ cây cà phê để chuyển sang trồng sắn…" - ông Hồ Liên, ở bản A Bung, xã Nhâm buồn rầu nói.

Tương tự như hộ ông Hồ Liên, nhiều gia đình ở các xã Hồng Bắc, Hồng Thượng, Hồng Thái, Nhâm trót "đâm lao" theo cây cà phê, dù tiếc tiền bạc, mồ hôi công sức bỏ ra để chăm sóc cà phê nhiều năm trời, vẫn phải chặt bỏ để giải phóng lấy đất canh tác duy trì cuộc sống. Điều đáng nói là về "danh chính ngôn thuận", sau khi doanh nghiệp đầu tư phá sản, diện tích đất do các hộ dân góp vào quỹ đất trồng cây cà phê đều bị cơ quan chức năng "kê biên" chờ thanh lý theo thủ tục pháp luật. Theo đó, để "chuộc" lại số đất canh tác của mình đã góp vào với doanh nghiệp thì các hộ dân sẽ phải bỏ ra không ít tiền để cùng"gánh" trách nhiệm. Điều này là rất khó, bởi đa phần các hộ trồng cà phê đều thuộc diện nghèo, lo cái ăn hàng ngày đã "mướt mồ hôi", nói gì đến việc phải bỏ ra những món tiền không nhỏ để mua lại đất, vườn đã góp vào quỹ đất của doanh nghiệp.

Câu chuyện về cây cà phê ở A Lưới cho thấy mối liên kết giữa doanh nghiệp - nông dân còn tồn tại nhiều vấn đề, sự gắn kết, chia sẻ lợi ích và trách nhiệm giữa hai bên còn lắm bất cập. Nằm trong chủ trương chuyển đổi cơ cấu cây trồng, thực hiện công nghiệp hóa nông nghiệp - nông thôn và miền núi, cây cà phê đã lên vùng cao A Lưới trong sự hy vọng của đồng bào các dân tộc thiểu số. Việc Công ty TNHH một thành viên Vinacafe Quảng Trị quyết định đầu tư nhằm trợ giúp nông dân vốn, giống, kỹ thuật canh tác và bao tiêu sản phẩm không có gì sai. Tuy nhiên, làm thế nào để việc rủi ro của doanh nghiệp không làm ảnh hưởng đến người trồng cà phê là chuyện lẽ ra phải được tính đến từ lâu. Chẳng hạn, nếu dự kiến được khả năng tiếp nhận toàn bộ sản lượng cà phê sau thu hoạch trên địa bàn từ các kênh sản xuất, kinh doanh thì ngay cả khi doanh nghiệp đầu tư "có vấn đề" thì nông dân cũng không "chết" theo, bởi có các đơn vị khác đảm bảo thu mua hết nguyên liệu cho bà con. Phải chăng, đó là bài học rút ra từ cây cà phê ở A Lưới?n

Đặng Tuyết

Bình luận

ZALO