Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Thứ hai, 01/03/2021 08:54 GMT+7

Nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước về biển, đảo

Biên phòng - Việt Nam là một quốc gia biển với vùng biển rộng, bờ biển dài và hơn 3.000 đảo trong khu vực Biển Đông giàu có. Biển Việt Nam chiếm vị trí địa chính trị, địa kinh tế và địa văn hóa trọng yếu trên bình đồ chiến lược khu vực và thế giới. Để khai thác tiềm năng và lợi thế đó đòi hỏi phải có hệ thống quản lý Nhà nước với bộ công cụ đủ mạnh và hiệu quả.

Bài 2: Không thể đi theo "lối mòn biển cả"

Quản lý bằng tư duy khoa học hệ thống

PGS.TS Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cho rằng: Cho đến bây giờ, nước ta chủ yếu tập trung vào phát triển kinh tế đất liền, kể cả những gì chúng ta đã định nghĩa về biển thì cơ bản chúng ta phát triển từ đất liền và theo tư duy lô gic đất liền. Trong khi không gian biển rất rộng, đòi hỏi năng lực về tài chính, công nghệ, quản trị rất lớn. "Để khai thác tốt tài nguyên và phát triển mạnh, hiệu quả kinh tế biển, trong điều kiện ngày nay, rõ ràng Việt Nam không thể đi theo "lối mòn biển cả", chủ yếu "mò cua bắt ốc, đánh bắt gần bờ" như từ trước đến nay" - ông Thiên nhấn mạnh.

dc0x_10a
Bờ biển TP Hạ Long, Quảng Ninh. Ảnh: N.B

Theo PGS.TS Triệu Văn Cường, Thứ trưởng Bộ Nội vụ, về bản chất, không gian biển, đảo khác với không gian trên đất liền, kéo theo sự khác nhau về kiểu loại và cơ cấu tài nguyên, đòi hỏi phải có phương thức khai thác, sử dụng và quản lý phù hợp. Trên quan điểm đó, PSG.TS Triệu Văn Cường cho rằng: Để quản lý biển, đảo có hiệu quả theo hướng phát triển bền vững trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 cần thiết phải có cách tiếp cận và phương pháp tư duy khoa học hệ thống, dựa vào không gian và quy chế phối hợp liên ngành, liên vùng trong bối cảnh phát triển đa ngành, đa mục tiêu và luôn cạnh tranh. Đồng thời, phát triển sáng tạo các phương thức và công cụ quản lý thích ứng để giải quyết các thách thức toàn cầu và quốc gia nhằm tăng cường hiệu quả, hiệu lực công tác quản lý Nhà nước về biển và hải đảo.

Xuất phát từ thực tiễn và kết quả thực hiện quản lý vùng bờ Tây vịnh Bắc bộ Hải Phòng - Quảng Ninh, PGS. TS Nguyễn Văn Thành, Thứ trưởng Bộ Công an, thành viên Hiệp hội Quốc tế về nghiên cứu hệ thống (IFSR) khẳng định, cần phải có tư duy hệ thống trong quản lý không gian biển và quản lý tổng hợp vùng bờ tại Việt Nam. "Trong tổng quan phải tư duy toàn cầu, hành động quốc gia và  tư duy quốc gia, hành động địa phương. Đối với biển cần có quy hoạch không gian; quản lý tổng hợp vùng bờ và các vùng nhạy cảm liên quan đến sinh thái. Không quy hoạch sẽ không giải quyết được vấn đề gì" - ông nhấn mạnh.

Đồng quan điểm phải có quy hoạch không gian biển, PGS.TS Nguyễn Thị Lan Anh, Viện Nghiên cứu Biển Đông, Học viện Ngoại giao nhấn mạnh: "Quy hoạch biển là một công cụ khoa học giúp xác định các nhu cầu và giải quyết các thách thức trong quá trình quản lý biển để đạt được các mục tiêu phát triển bền vững. Xây dựng được một quy hoạch biển, đảo khoa học, toàn diện và có tầm nhìn chiến lược dài hạn là một trong những điều kiện tiên quyết đối với công tác quản lý Nhà nước về biển, đảo".

Theo PGS.TS Nguyễn Thị Lan Anh, về mặt nội dung quy hoạch phải đáp ứng được tầm nhìn phát triển dài hạn của Việt Nam. Trong đó, nổi bật nhất là kết hợp hài hòa giữa hai tiêu chí là phát triển bền vững và đảm bảo an ninh-quốc phòng. Bên cạnh đó, quản lý Nhà nước về biển, đảo phải dựa trên sự phối hợp liên ngành, trên cơ sở tuân thủ pháp luật.

yumq_10b
Nhiều địa phương đang phát triển kinh tế biển theo hướng du lịch và dịch vụ. Ảnh: N.B

Bắt đầu từ các đô thị xanh ven biển

Ở một khía cạnh khác, GS.TS Luc Hens, Tổng biên tập Tạp chí Môi trường và Phát triển bền vững (VITO), Vương quốc Bỉ nêu quan điểm quản lý biển, đảo hiệu quả hay không phụ thuộc một phần vào việc quản lý các đô thị xanh ven biển.

Lấy kinh nghiệm từ Vương quốc Bỉ, ông Luc Hens chia sẻ: "Việc quản lý các đô thị ven biển của Bỉ có 3 trụ cột chính là: Môi trường, xã hội và kinh tế. Cụ thể là xây dựng các đô thị trung tính về khí cacbon. Bên cạnh một môi trường trong lành, phải quản lý xã hội tốt. Điều này có nghĩa là chúng tôi tập trung xây dựng đô thị có sức sống, cơ cấu tỉ lệ dân số hợp lý, hài hòa và đặc biệt phải đảm bảo sự an toàn và công bằng cho các nhóm dân số trong xã hội. Trên nền một môi trường trong lành, xã hội công bằng, chúng tôi phát triển kinh tế bền vững".

Xu hướng phát triển bền vững đô thị ven biển xuất hiện từ năm 1970, bắt đầu từ việc chăm sóc cho người dân có sức khỏe tốt để chống lại những biến đổi của môi trường. "Tuy nhiên, thập kỷ sau thế giới nhanh chóng nhận ra rằng một đô thị bền vững không chỉ cần con người khỏe mạnh, mà còn có môi trường trong lành, xã hội có sức sống. Sang năm 1990, thế giới một lần nữa nhận ra rằng, cần có sự tăng trưởng xanh. Và sau hội nghị thế giới về môi trường năm 1992, các nước trên thế giới tập trung phát triển đô thị xanh ven biển, trong đó phát triển bền vững được chú ý bao gồm phát triển kinh tế-xã hội có hiệu quả cao và xây dựng môi trường trong lành" - ông Luc Hens cho biết.

Từ những nghiên cứu về phát triển đô thị xanh ven biển trên thế giới, ông Luc Hens chỉ ra những thách thức mà con người đang phải đối mặt. Đó là sức ép về giao thông, khí thải, sự thiếu hụt nguồn nước, năng lượng... Theo dự báo của các nghiên cứu về năng lượng hiện nay thì đến giữa thế kỷ này thế giới sẽ thiếu năng lượng, điều đó đòi hỏi việc sử dụng năng lượng phải hiệu quả và tiết kiệm hơn. Ông Luc Hens khuyến nghị: "Muốn quản lý đô thị ven biển bền vững phải có cách tiếp cận liên ngành, có sự tham gia của các cơ quan liên quan. Ngoài việc nhận diện các vấn đề thách thức trong quản lý đô thị bền vững mà chúng ta đang đối mặt, phải nhanh chóng có hành động cụ thể để tránh thiệt hại lớn về kinh tế".

Bích Nguyên

Bình luận

ZALO