Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Thứ sáu, 23/04/2021 09:27 GMT+7

Năm Dậu, tản mạn về gà

Biên phòng - Gà là loài vật quen thuộc trong đời sống của người Việt Nam từ thôn quê đến thành thị, từ đồng bằng đến vùng sâu, vùng xa. Trong phong tục tập quán, trong ngôn ngữ văn chương, gà chiếm một vị trí quan trọng và gà cũng là một hình ảnh phổ biến trong đời sống hằng ngày của người dân.

Con gà trong biểu tượng năm Dậu còn có nghĩa là hạnh phúc ấm no: "Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong" (Hoàng Cầm). Tranh gà trống hùng dũng và tranh gà mái với đàn con khỏe mạnh, xinh xắn gợi nên cảnh sống vui vẻ, no đủ. Đó cũng là biểu tượng về khát vọng ấm no, hạnh phúc của con người. Con gà là nguồn thực phẩm thông dụng, phổ biến nhưng rất sang trọng.

Những ngày giỗ chạp, trên mâm cỗ không thể thiếu con gà. Có địa phương cứ mỗi năm, đến ngày giỗ tổ ở nhà thờ họ, con dâu trong họ có lệ thi nhau làm cỗ gà. Thật là một ngày hội tưng bừng náo nhiệt, nhất là được xem chấm cỗ. Mỗi lần như vậy, vị trưởng tộc cùng với các bậc bô lão khăn đóng, áo dài, dáng điệu trịnh trọng đi duyệt qua các mâm xôi gà đang được bày hàng dãy trước bàn thờ gia tiên, xem xét từng cổ gà để  bình phẩm từng ly tấc, cân nhắc hơn thua.

Những con gà trống nằm ngay ngắn trên mâm, ngóc cao cổ lên như thế nằm khi đang còn sống, con nào con nấy đủ nguyên các bộ phận. Muốn được trưởng tộc chú ý, da gà phải vàng bóng không nứt, không trầy, mồng thẳng đứng, mỏ và chân không trầy trụa. Các bà nội trợ tụ họp tại một góc, già có, trẻ có, ai nấy ngước mắt lên nhìn các vị trưởng tộc và hồi hợp đợi chờ tuyên bố người thắng cuộc. Cỗ xôi gà nào được giải thì được chia đều cho các gia đình có ngôi thứ trong họ. Nhà được giải không có phần thưởng nào quý hơn là được tiếng khen của người trong họ, trong làng. Tiếc thay tục lệ quý báu như trên ngày nay không còn được duy trì.

Những ngày lễ, Tết, họ hàng thân thuộc đi biếu nhau cũng phải có một cặp gà trống mới được mắt. Có nhà đã dành công trong năm nuôi cặp gà trống thiến, săn sóc cho béo mập, sắc lông  rực rỡ để đi Tết thông gia hoặc những gia đình có ân nghĩa. Ở thôn quê, hầu như nhà nào cũng nuôi dăm bảy con gà. Thịt gà cũng được chế biến thành nhiều món ăn tùy thuộc vào phong tục từng địa phương. Ngày xưa, ở cố đô, bậc vua chúa quan quyền thường dùng món "gà lộn" lắm công phu, được khoác lên một danh từ mỹ miều là "chả phụng".

Gà làm xong chưa luộc, đem rút hết xương và lóc thịt ra, chỉ để nguyên bộ da lại. Một kỳ công "giải phẫu" như thế đòi hỏi sự kiên nhẫn và khéo tay, chắc ngày nay không mấy ai làm nổi. Thịt nạc gà và heo được bỏ vào cối giã cho thật nhuyễn, trộn gia vị tiêu, hành, nước mắm..., sau đó đem độn vào bụng gà cho khéo, sau đó may lại y như gà còn nguyên con vậy. Tùy theo khẩu hứng, người ta đem gà ra quay, nướng, chiên hoặc hấp. Nhưng thế cũng chưa phải là xong. Gà chín rồi được bày ra đĩa, đoạn người ta lấy tăm xâu vào trong lá hành ống, cắm vào đầu, cổ, cánh và đuôi gà để làm lông, bày như thế ở bàn tiệc, khi ăn phải cắt thịt gà từng khoanh tròn cho khéo, không được để vỡ ra từng miếng.

Món gà hấp khô cũng được nhiều người ưa chuộng. Người ăn chọn gà mái giò, moi ruột chứ không mổ, băm nhỏ bún tàu, thịt heo nạc gia vị xong độn vào bụng gà bỏ lên xửng hấp khô. Khi lấy đũa thọc sâu được vào gà là gà đã chín, đem xé nhỏ ra chấm với muối tiêu và rau răm.

Món gỏi gà thay đổi tùy theo địa phương. Ở Huế, người ta chọn gà tơ chưa chịu trống, lẫy thịt sống thái mỏng ướp dấm, tỏi, tiêu, hành, nước mắm, đem dầm kỹ đậy kín độ nửa ngày, thịt hồng lên mà vẫn còn đượm được sắc vàng, dền, khi ăn chấm với nước tương thì là ngon tuyệt!

Ở miền Nam, món gỏi gà thật đơn giản, chẳng hiểu cái cách ăn có thể hiện cá tính của con người từng địa phương hay không? Người ta chỉ cần chặt thịt gà luộc thành từng miếng, trộn với bắp chuối, bắp cải xắt nhỏ chấm với nước mắm chua ngọt.

Người có tiền của còn dùng món gà chưng cách thủy với táo, hạt sen hoặc với yến sào vì nó là món đặc biệt bổ thận. Người bình dân ưa nhất món gà phay thịt xé nhỏ bóp với tiêu muối, rau răm, hành tây.

Ngày đầu năm, ta còn có tục bói gà. Ở đầu đình góc chợ, dọc theo các công viên, các nhà "tướng số" đem trưng bày chân gà trên cái tráp sơn đen quảng cáo cho khoa bói toán của mình. Gà tuy số phận hẩm hiu, nhưng có lúc gà cũng đáng hãnh diện được nói đến trong ngôn ngữ văn chương.

Những khi ớn lạnh hoặc sợ hãi, ta hay nói "nổi da gà". Các chàng thư sinh ngày xưa, các thầy khóa, thầy đồ cũng được gán cho cụm từ "trói gà không chặt". Để chỉ trạng thái mệt mỏi, người ta lại nói "ngủ gà ngủ gật".

Tiếng gà gáy không những là một âm thanh quen thuộc định giờ giấc ở thôn quê, mà còn là đề tài thi phú văn chương.

"Gì sâu bằng những trưa thương nhớ

Hiu quạnh bên trong một tiếng gà...".

Thi sĩ Thâm Tâm ghi lại những buổi trưa hè vắng lặng của đồng quê Việt Nam, phác họa cái cảnh thanh bình êm ả của một thời xa xưa bằng một tiếng gà gáy trưa. Nhà thơ Nguyễn Bính cũng diễn tả nỗi buồn của người em gái tiễn chị đi lấy chồng bằng một tiếng gà:

"Bây giờ chị đã sang sông

Xao xác gà trưa gáy não nùng...".

Nhà văn Tô Hoài đã làm cho hình ảnh con gà Việt Nam sống động hẳn lên trong những tác phẩm bất hủ về gia súc mà không người học sinh trung học nào lại không biết.

Để nhắc lại một giai đoạn lịch sử bi thảm Trịnh Nguyễn phân tranh, người ta có câu ca dao: "Khôn ngoan đối đáp người ngoài/Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau". Nhưng vinh dự cho gà hơn cả là chí sĩ Phan Bội Châu đã dùng tiếng gà rạng đông để đánh thức cả một dân tộc.

"Dậy mà nghe! Dậy mà nghe!

Tiếng gà đã gáy bên tê kia kìa".

  Năm Đinh Dậu đã tới, khách đến nhà "không gà thì vịt" chứ đừng có "quáng gà" để rồi "ông nói gà, bà nói vịt".

Hoàng Văn

Bình luận

ZALO