Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Thứ sáu, 16/04/2021 11:45 GMT+7

Món ăn độc đáo ngày Tết

Biên phòng - Ngày Tết, mỗi dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam lại có những món ăn không thể thiếu trong mâm cỗ. Đôi khi, món ăn chỉ được tạo nên từ những nguyên liệu hết sức giản đơn lại là nét văn hóa đặc sắc, thấm đẫm phong vị núi rừng, khiến bất kỳ ai đã thưởng thức một lần không thể nào quên.

 Pẻng phạ - món bánh "dâng trời"

Không phải ngẫu nhiên mà pẻng phạ (bánh trời) của người Tày ở Ba Bể, Bắc Kạn lại đứng đầu Top 100 món ăn đặc sản Việt Nam 2016 do Tổ chức Kỷ lục Việt Nam đề cử lên Liên minh Kỷ lục thế giới. Bởi hương vị pẻng phạ độc đáo từ nguyên liệu và cách làm ra nó gắn bó mật thiết với đời sống văn hóa, tín ngưỡng của người Tày nơi đây.

Vì là "bánh trời", nên người Tày hầu như chỉ làm vào dịp lễ Tết, đón năm mới hay lễ hội ''lồng tồng'' (lễ xuống đồng).  Theo lời kể của nhà thơ Dương Thuấn, người nghiên cứu lâu năm về văn hóa Tày, bánh pẻng phạ được làm vào đúng đêm giao thừa của Tết Nguyên đán để cúng tổ tiên, vì người Tày quan niệm, lúc đó ông bà tổ tiên về ăn Tết, họ bày bánh, rót nước, rót rượu dâng lên mời các cụ.

49d
Bánh pẻng phạ của người Tày ở Ba Bể (Bắc Kạn).

Nguyên liệu chính làm pẻng phạ là bột gạo nếp và đường mía. Gạo nếp không được lẫn gạo tẻ, nhặt sạch thóc, sạn, xay khô, đem nghiền thành bột, sau đó nhào với chè đặc và rượu ngô. Nước chè mạn pha đặc để lấy màu nâu và vị chát, còn rượu trắng để dậy mùi thơm nồng. Chỉ một chiếc bánh mà hội tụ nhiều nguyên liệu, hương vị đặc trưng như vị cay nồng của rượu, vị ngọt của đường mía, vị chát rất thơm của nước chè mạn, vị béo, bùi của bột nếp nương, kèm thêm lớp bột áo mềm, li ti, tan chảy nơi đầu lưỡi... Tất cả như hòa quyện vào nhau, đậm đà nhớ mãi.

Cả quy trình làm bánh có thể mất 1-2 tiếng, song lâu nhất là lúc đun mỡ, thả bánh vào mật. Thường thì người Tày làm từ tối đến nửa đêm, vì theo tiết giao thừa họ tính từ lúc 2-3 giờ sáng chứ không tính từ 0 giờ như lịch tây. Làm xong mẻ bánh bày lên bàn thờ cũng là lúc bắt đầu vào lễ cúng tổ tiên.

Canh đắng người Mường - vị ngon khó cưỡng

Đúng như tên gọi của nó, canh đắng có vị đắng đặc trưng. Đây là một loại lá rừng, hình dáng như lá sắn, thuộc họ ngũ gia bì. Tàu có 5 lá như chân chim nên còn được gọi là lá chân chim, có nơi còn gọi là lá mật vịt, thường mọc ở ven suối và ở những đồi núi thấp. Lá đắng có 2 loại chính. Một loại xanh thẫm, lá dày, không có viền răng cưa. Loại thứ 2 lá mỏng hơn, xanh nhạt và có răng cưa xung quanh viền lá. Theo chị Quách Thị Hằng, người dân xã Ngọc Khê, huyện Ngọc Lặc, Thanh Hóa, loại lá đắng mỏng, có răng cưa, nấu sẽ ngon hơn, vì lá có vị ngòn ngọt nơi cổ họng sau khi ăn. Và bát canh ngon nhất được làm từ những chiếc lá bánh tẻ.

49a
Canh đắng cứ Mường (Thanh Hóa).

Nguyên liệu nấu canh lá đắng thường là thịt hoặc cá, có nơi còn nấu với thịt bò, ngan, vịt, lòng lợn... băm nhỏ trộn đều với sả, mẻ, mắm tôm, tiêu, ớt, gia vị... ướp khoảng 15 phút trước khi nấu. Bắc nồi lên bếp củi, cho hành tỏi vào phi thơm và đảo nhanh tay hỗn hợp trên.

Có một lưu ý là lá đắng cho vào sau cùng, thậm chí bắc nồi xuống rồi mới thả lá đã thái chỉ vào, sao cho vẫn còn vị xanh của lá. Chờ cho sôi lại chừng 3-5 phút thì bắc ra. Mùi thơm của sả, vị béo đậm đà của nước dùng, vị ngọt bùi ngầy ngậy của thịt cùng các loại gia vị đi kèm, dậy mùi đặc trưng của rau lá đắng khiến ai cũng muốn thưởng thức.

Theo quan niệm của đồng bào dân tộc Mường, ai đã từng trải qua vị chua, cay, ngọt, đắng của cuộc đời mới thấm được vị ngon của món canh đắng. Người mới nếm lần đầu sẽ thấy vị đắng ngắt thấm sâu vào đầu lưỡi. Nhiều người còn nhắm mắt, rùng mình vì chưa từng ăn món nào đắng đến thế. Nhưng vị tê tê ấy sẽ qua rất nhanh, thay vào đó là vị chan chát, ngòn ngọt, vị béo bùi thơm phức và sau cùng là vị ngọt thanh lan tỏa, giúp người ấm dần lên giữa cái se lạnh của núi rừng.

Bánh sừng trâu của người Pà Thẻn

Đến với vùng núi Quang Bình, tỉnh Hà Giang vào những ngày giáp Tết, bạn sẽ được trải nghiệm một phong tục rất đẹp, đó là gói bánh sừng trâu. Không phải tự nhiên mà người Pà Thẻn gọi chiếc bánh giản dị này bằng tên như vậy. Một phần vì hình dáng của nó giống sừng con trâu, nhưng phần nhiều vì họ coi trọng con trâu trong đời sống sản xuất. Bánh sừng trâu chỉ được gói bằng gạo, không có nhân đậu xanh hay bất kỳ một loại nhân nào khác, bởi vì người Pà Thẻn quan niệm, hương vị bánh chủ yếu thể hiện ở hương vị của gạo nếp và đó cũng là để báo cáo lên tổ tiên những thành quả trong năm qua.

49c
Bánh sừng trâu của người Pà Thẻn (Hà Giang).

Bà Lìu Thị Tả, người dân thôn My Bắc, xã Tân Bắc, huyện Quang Bình cho rằng bước tìm chọn lá nón là bước quan trọng đầu tiên cho ra một mẻ bánh ngon: "Lá phải đẹp, non quá thì gấp dễ bị héo, mà già quá gấp sẽ bị giòn. Lá có từng nhánh một, bắt đầu chọn xé ra một nhánh, thích làm bánh to thì mình xé cái lá to bằng bàn tay, thích làm bánh nhỏ thì mình xé cái lá to bằng ba ngón tay".

Để có bánh màu đen, màu của sừng trâu và có vị đậm đà, người Pà Thẻn giữ bí quyết là đốt rơm nếp, lấy than trộn vào gạo. Điều khác biệt ở cách làm bánh sừng trâu so với bánh của nhiều dân tộc khác là người Pà Thẻn không ngâm nếp trước rồi mới đem gói mà ngược lại, bánh gói xong được buộc lại thành từng cặp, rồi mới ngâm nước khoảng 30-40 phút và cho vào luộc. Ở đây, cái khó là chỉ cho một lần nước từ đầu, người làm bánh vẫn phải ước lượng được tỷ lệ giữa bánh và nước. Khi nước cạn, bánh có màu vàng, mềm dẻo đều là được.

588d3f9a8ae43b3125001d94
Thi gói bánh sừng trâu ngày Tết ở xã Tân Bắc, huyện Quang Bình, Hà Giang. Ảnh: Thu Hòa

Người Pà Thẻn cũng như nhiều dân tộc khác quan niệm người đã khuất cũng cần được ăn uống như khi còn sống. Bởi vậy, trong mỗi dịp cúng lễ, họ không quên dâng lên ông bà tổ tiên mâm cao cỗ đầy. Trong đó, đặc biệt nhớ hương vị của chiếc bánh sừng trâu - như lời biết ơn về cội nguồn, về mảnh đất quê giản dị, nghĩa tình.

Dù là ngày Tết, nhưng những món ăn của đồng bào các dân tộc vẫn chất chứa nét giản dị, dân dã, khiến ai đã từng thưởng thức đều cảm thấy như được hòa mình vào cảnh sắc thiên nhiên của núi rừng hoang sơ, như được sống trong không gian văn hóa độc đáo, đậm đà bản sắc vùng cao.

Thu Hòa

Bình luận

ZALO