Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Thứ hai, 21/06/2021 08:20 GMT+7

Mốc son lịch sử của thể chế dân chủ ở Việt Nam

Biên phòng - 70 năm đã qua, nhưng trong ký ức của nhiều người dân Việt Nam, ngày 6-1-1946 là một ngày vui trọng đại, ngày Tổng tuyển cử đầu tiên trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Từ thân phận nô lệ, người dân Việt Nam đã trở thành "chủ nhân" của nước tự do độc lập, khẳng định với thế giới rằng: Nhân dân Việt Nam quyết tâm bảo vệ nền độc lập, có quyền và đã thực sự có đủ khả năng để tự quyết định vận mệnh lịch sử của mình.

c4yz_12a
 Nhân dân tham gia Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946. Ảnh: Tư liệu

Nền tảng của một chế độ bầu cử thực sự tự do, dân chủ

Ngày 3-9-1945, chỉ một ngày sau khi đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị một trong sáu nhiệm vụ cấp bách là phải thực hiện ngay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu để bầu ra Quốc hội - cơ quan quyền lực tối cao của nhân dân, từ đó sẽ cử ra một Chính phủ thật sự của toàn dân và ấn định cho nước Việt Nam một Hiến pháp dân chủ.

Chính phủ lâm thời do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu đã khẩn trương xây dựng và ban hành gần một chục sắc lệnh về bầu cử nhằm bảo đảm cơ sở pháp lý cho cuộc Tổng tuyển cử được tự do, dân chủ. Cùng với việc ban hành các sắc lệnh về Tổng tuyển cử, Chính phủ lâm thời cũng công bố bản dự thảo Hiến pháp đầu tiên để nhân dân tham gia ý kiến.

Thời điểm đó, không ít người tỏ vẻ lo lắng cuộc Tổng tuyển cử sẽ không có kết quả, do trình độ nhân dân lúc bấy giờ quá thấp (hơn 90% đồng bào ta bị mù chữ), nhưng Bác Hồ với lòng tin tuyệt đối vào nhân dân, khẳng định: "Nhân dân sẽ biết sử dụng lá phiếu của mình. Tổng tuyển cử nhất định thành công".

Các sắc lệnh quan trọng của Chính phủ lâm thời đều có những quy định thể hiện một cách triệt để nội dung, yêu cầu, nguyên tắc tự do bầu cử, ứng cử của công dân. Như Sắc lệnh 14 và Sắc lệnh 51 (ngày 17-10-1945) quy định rõ: "Tất cả công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt nam nữ đều có quyền bầu cử và ứng cử...".

Nguyên tắc tự do bầu cử trong cuộc Tổng tuyển cử được Chủ tịch Hồ Chí Minh giải thích trên báo Cứu Quốc, ngày 30-12-1945: "Hễ là người muốn lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử, hễ là công dân thì đều có quyền đi bầu cử. Không chia gái trai, giàu nghèo, tôn giáo, nòi giống, giai cấp, đảng phái, hễ là công dân Việt Nam thì đều có hai quyền đó".

Nguyên tắc này còn thể hiện trong các quy định về tự do vận động tranh cử: Mọi cá nhân và tổ chức được tự do vận động tuyển cử, nhưng cuộc vận động không được trái với nền Dân chủ cộng hòa. Những cuộc tuyên truyền, vận động có tính cách phương hại đến nền độc lập và cuộc trị an đều bị cấm...

Nguyên tắc bầu cử bình đẳng, nhất là bình đẳng nam nữ về quyền bầu cử, ứng cử có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng và nhân văn sâu sắc. Sau hàng nghìn năm dưới chế độ phong kiến với lễ giáo "tam tòng", người phụ nữ Việt Nam không có địa vị gì, cả trong xã hội cũng như trong gia đình, nay được hưởng ngay quyền bầu cử, ứng cử như nam giới. Chính nguyên tắc bầu cử bình đẳng không phân biệt nam nữ này đã nâng địa vị người phụ nữ Việt Nam lên ngang hàng với nam giới và sánh vai cùng phụ nữ các nước có nền pháp lý dân chủ, văn minh, tiến bộ đương thời.

Về quyền tự do ứng cử của công dân, các Sắc lệnh 51 và Sắc lệnh số 71 (ngày 2-12-1945) đều quy định thủ tục ứng cử đơn giản, thuận lợi cho người tham gia ứng cử. Đặc biệt, khi thấy có những nhân sĩ muốn ra ứng cử nhưng không đủ thì giờ để nộp đơn và vận động tranh cử, ngày 18-12-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 76 quyết định hoãn cuộc Tổng tuyển cử đến ngày 6-1-1946 và quy định hạn nộp đơn ứng cử kéo dài đến ngày 27-12-1945. Nhờ đó, trong cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên đã có hàng nghìn người ứng cử và ở mỗi đơn vị bầu cử số ứng cử viên nhiều hơn gấp nhiều lần số đại biểu cần bầu.

Có thể khẳng định rằng, những quy định của các Sắc lệnh về Tổng tuyển cử đầu tiên của nước ta đã thể hiện rõ ràng, cụ thể và triệt để những nội dung, yêu cầu của các nguyên tắc bầu cử dân chủ và tiến bộ: Nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Đây chính là điều kiện hết sức quan trọng bảo đảm cho pháp luật bầu cử sớm đi vào cuộc sống, để chúng ta có thể tổ chức được cuộc Tổng tuyển cử thực sự tự do, dân chủ, sau hơn 4 tháng nước nhà giành được độc lập.

Sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân

Xây dựng và ban hành các Sắc lệnh về Tổng tuyển cử với những quy định tự do, dân chủ và tiến bộ như trên đã là khó và có ý nghĩa rất quan trọng. Nhưng tổ chức cuộc Tổng tuyển cử sao cho thực sự tự do, dân chủ, biến các quy định của pháp luật bầu cử tự do, dân chủ đó thành hiện thực trong cuộc sống còn khó khăn hơn nhiều. Nhất là cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của nước ta được tổ chức, khi mà "thù trong, giặc ngoài" còn đe dọa, chống phá và di chứng "giặc đói", "giặc dốt" của chế độ thực dân đế quốc để lại.

Ở miền Bắc, gần 20 vạn quân Tưởng Giới Thạch với danh nghĩa quân Đồng minh tràn sang giải giáp quân Nhật, nhưng thực chất là cướp bóc và nuôi dưỡng, câu kết với các thế lực phản động như: Đảng Việt Quốc, Việt Cách. Để chống phá điên cuồng Tổng tuyển cử, bọn phản động tổ chức vũ trang các đường, các chợ, dọa nạt cử tri, âm mưu bắt cóc, ám sát các ứng cử viên do Việt Minh giới thiệu.

Ngay ở Hà Nội, chúng mang cả tiểu liên đến Ngũ Xá ngăn không cho đặt hòm phiếu, chúng còn cấm nhân dân treo cờ. Ở tỉnh Phú Thọ, đêm 4-1-1946, chúng cho người xuống nhà dân thu thẻ cử tri, sai người tháo dỡ khẩu hiệu, áp phích... Ở miền Nam, từ vĩ tuyến 16 trở vào, quân đội Pháp được nửa vạn quân đội Anh yểm trợ đã quay trở lại đánh chiếm Sài Gòn và các tỉnh Nam bộ, cực Nam Trung bộ và Tây Nguyên. Ở những nơi này, chúng dùng quân đội, cảnh sát, mật thám khủng bố nhân dân, cướp của, đốt nhà hòng ngăn cản tổ chức Tổng tuyển cử.

Trước tình hình trên, Chính phủ lâm thời quyết định dồn toàn lực vào công tác tuyên truyền, vận động bầu cử, giúp người dân hiểu về mục đích, ý nghĩa và tầm quan trọng của Tổng tuyển cử, về các quy định của pháp luật bầu cử... để động viên cử tri đi bầu cử nhiều nhất, sớm nhất. Cuộc vận động và tuyên truyền về Tổng tuyển cử diễn ra sôi nổi và có nội dung phong phú trên khắp cả nước. Các cơ quan thông tin đại chúng, nhất là các báo Cứu Quốc, Sự Thật giữ vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn, cổ vũ quần chúng, đấu tranh phê phán sự xuyên tạc của các lực lượng chính trị đối lập.

Danh sách những người ứng cử ở các tỉnh, thành phố cũng được công bố công khai để nhân dân tự do tìm hiểu, lựa chọn khi bầu. Từ nhiều tháng trước ngày bầu cử, cán bộ Việt Minh ở cấp cơ sở còn trực tiếp tuyên truyền, phổ biến đến cử tri những kiến thức cơ bản nhất về Quốc hội, về quyền bầu cử, ứng cử của công dân. Cách tuyên truyền, vận động bầu cử của Việt Minh cũng độc đáo, sáng tạo. Có nơi, cán bộ phải ở cùng với dân cả khi làm đồng, khi xay lúa, lấy bèo, dạy chữ..., cả ngày cũng như đêm, giải thích đi, giải thích lại một cách cụ thể và dễ hiểu cho đồng bào về Quốc hội, về tầm quan trọng của Tổng tuyển cử, về quyền bầu cử, ứng cử... của công dân.

Ngày 5-1-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có lời kêu gọi toàn dân đi bỏ phiếu: "Ngày mai là một ngày đưa quốc dân ta lên con đường mới mẻ", "là ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu tận dụng, hưởng quyền dân chủ của mình... Ngày mai, dân ta sẽ tỏ cho các chiến sĩ ở miền Nam rằng: Về mặt trận quân sự, thì các chiến sĩ dùng súng đạn mà chống quân thù. Về mặt chính trị, thì nhân dân dùng lá phiếu mà chống với quân địch. Một lá phiếu cũng có sức lực như một viên đạn". Vì thế mà "Ngày mai, tất cả các bạn cử tri, đều phải nhớ đi bầu cử. Ngày mai, mỗi người đều nên vui vẻ hưởng quyền lợi của một người dân độc lập, tự do".

Hưởng ứng lời hiệu triệu thiêng liêng của Hồ Chủ tịch, ngày 6-1-1946, với tinh thần yêu nước nồng nàn và khí thế hào hùng của Cách mạng tháng Tám, nhân dân ta từ Bắc chí Nam, từ miền xuôi đến miền ngược, trên khắp mọi miền của Tổ quốc đã nô nức tham gia bầu cử, bất chấp sự phá hoại điên cuồng của các thế lực xâm lược và chống đối. Trong những vùng bị địch tạm chiếm đóng, nhân dân tập trung bỏ phiếu, quân Pháp kéo đến khủng bố, nhân dân phải mang thùng phiếu di chuyển đến nơi khác và tiếp tục bỏ phiếu.

Trong cuộc Tổng tuyển cử này đã có không ít những lá phiếu nhuốm máu cả người đi bầu, cả người tổ chức bầu cử. Ở Nha Trang, Mỹ Tho, Cần Thơ, Tân An, Tây Nguyên..., quân đội Pháp đã ném bom, bắn phá, làm một số người chết và bị thương. Chỉ riêng ở Sài Gòn - Chợ Lớn đã có 42 cán bộ, chiến sĩ hy sinh trong khi làm nhiệm vụ Tổng tuyển cử.

Cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên đã thành công trên phạm vi cả nước, bất chấp sự phá hoại điên cuồng của bọn phản động ở phía Bắc và cuộc xâm lăng tàn bạo của thực dân Pháp ở phía Nam. Tính chung cả nước, số cử tri tham gia bỏ phiếu đạt 89%, trong khi đó, theo quy định về Thể lệ Tổng tuyển cử, chỉ cần 25% số cử tri có quyền bầu cử đi bầu thì cuộc bầu cử đã có giá trị. Cuộc Tổng tuyển cử đã bầu được 333 đại biểu, trong đó, 57% số đại biểu thuộc các đảng phái yêu nước và cách mạng khác nhau, 43% không đảng phái, 10 đại biểu nữ, 34 đại biểu các dân tộc thiểu số.

Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên ngày 6-1-1946 là mốc son lịch sử, đánh dấu bước phát triển nhảy vọt về thể chế dân chủ của nước ta. 70 năm qua, Quốc hội luôn xứng đáng là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân Việt Nam và là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước CHXHCN Việt Nam. Các hoạt động lập hiến, lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao các hoạt động của Nhà nước của Quốc hội ngày càng dân chủ hơn và đã góp phần quan trọng trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Bình luận

ZALO