Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Thứ sáu, 24/09/2021 06:25 GMT+7

Miễn thuế nhập khẩu cho nguyên liệu, linh kiện trong nước chưa sản xuất được

Biên phòng - Ngày 6-4, Quốc hội tiếp tục thông qua các Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (sửa đổi) và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Quản lý thuế.

dsc-1005
 Ông Nguyễn Đức Hải giải trình, tiếp thu và chỉnh lý Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều  của Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (sửa đổi); Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Quản lý thuế. Ảnh: Viết Hà

Động cơ tàu thủy phục vụ đóng tàu đánh bắt xa bờ được miễn thuế

Đối với Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (sửa đổi) được 451/454 đại biểu tán thành thông qua (91,30%). Trước khi đưa ra QH biểu quyết, ngày 25-3-2016, QH đã thảo luận tại hội trường và có nhiều ý kiến về các quy định miễn thuế (Điều 16). Các đại biểu đề nghị sửa khoản 13 Điều 16 miễn thuế đối với nguyên liệu, linh kiện, vật tư trong nước chưa sản xuất được phải nhập khẩu phục vụ sản xuất thuộc ngành nghề ưu đãi đầu tư hoặc địa bàn ưu đãi đầu tư theo quy định của pháp luật.

Vấn đề này, theo ông Nguyễn Đức Hải, Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính và Ngân sách của QH, tại Điều 15 của Luật đầu tư năm 2014 đã quy định cụ thể các hình thức và đối tượng ưu đãi đầu tư, riêng mức ưu đãi cụ thể đối với từng ngành nghề, lĩnh vực được ưu đãi thì áp dụng theo quy định của pháp luật về thuế.

Do đó, để phân biệt mức độ ưu đãi đối với các loại dự án đầu tư, kế thừa quy định tại Điều 16 của Luật thuế xuất nhập khẩu hiện hành, tại Điều 16 của Dự thảo luật đã quy định đối tượng và mức ưu đãi cụ thể về thuế theo nguyên tắc, tất cả các dự án được ưu đãi đầu tư được miễn thuế đối với hàng hóa nhập khẩu tạo tài sản cố định cho dự án; các dự án đầu tư vào ngành nghề đặc biệt ưu đãi đầu tư, địa bàn đặc biệt khó khăn và doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp khoa học và công nghệ, tổ chức khoa học và công nghệ, được miễn thuế nhập khẩu theo quy định của pháp luật.

Mặt khác, cũng có ý kiến nên quy định rõ việc miễn thuế đối với hàng hóa nhập khẩu là hàng mẫu để nghiên cứu, thí điểm sản xuất tại khoản 10 Điều 16. Nhiều đại biểu kiến nghị bổ sung vào khoản 16 Điều 16 quy định miễn thuế đối với hàng hóa nhập khẩu bao gồm cả động cơ thủy, máy móc, thiết bị, phụ tùng, linh kiện, vật tư chuyên dùng thiết bị, dùng để đóng tàu biển xuất khẩu, tàu đánh bắt xa bờ, của cơ sở đóng tàu thuộc danh mục ngành nghề ưu đãi theo quy định.

Cũng theo ông Nguyễn Đức Hải, tại khoản 10 Điều 16 của Dự thảo luật đã quy định hàng mẫu để nghiên cứu, sản xuất, làm mẫu thí điểm không nhằm mục đích thương mại sẽ không phải nộp thuế. Trường hợp là hàng mẫu nhưng sau đó được sử dụng mua bán, trao đổi ra thị trường thì phải nộp thuế theo quy định. Việc quy định chi tiết cụ thể các loại hàng mẫu được miễn thuế sẽ do Chính phủ hướng dẫn.

Đặc biệt, việc miễn thuế cho động cơ thủy, tại khoản 16 Điều 16 của Dự thảo luật về miễn thuế đối với dự án, cơ sở đóng tàu thuộc danh mục, ngành nghề ưu đãi quy định miễn thuế nhập khẩu đối với nguyên liệu, vật tư, linh kiện, bán thành phẩm trong nước chưa sản xuất được phục vụ cho việc đóng tàu.

Tuy nhiên, máy móc, thiết bị mà trong nước chưa sản xuất được nếu không thuộc diện được miễn thuế sẽ không khuyến khích được ngành đóng tàu phục vụ cho xuất khẩu và tàu đánh bắt xa bờ. Do đó, để đồng bộ với các quy định của hệ thống pháp luật, UBTVQH đề nghị QH cho phép bổ sung thêm cụm từ “máy móc, thiết bị” thuộc diện miễn thuế tại điểm b khoản 16 Điều 16 của Dự thảo luật.

Cơ quan thuế phải trả tiền lãi nếu chậm hoàn thuế cho người nộp thuế  

Cùng ngày, QH đã biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Quản lý thuế, với 428/444 đại biểu đồng ý thông qua (86,64%). Trong đó, đáng chú ý, việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế (Điều 3). Trong phiên thảo luận tại hội trường ngày 22-3-2016, nhiều đại biểu đề nghị quy định mức tiền chậm nộp thuế là 0,03%/ngày thay tỷ lệ 0,04%/ngày.

Theo ông Nguyễn Đức Hải, dự thảo luật quy định mức tỷ lệ tiền chậm nộp thuế đối với các hành vi vi phạm pháp luật của người chậm nộp tiền thuế là chế tài, mang tính quy phạm pháp luật nhằm bắt buộc người nộp thuế phải chấp hành. Tuy nhiên, để phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2016-2020 và tạo điều kiện cho doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật của Nhà nước thì quy định tỷ lệ tiền chậm nộp thuế là 0,04%/ngày trong xu thế lãi suất vay ngân hàng ngày một giảm là cao, nhiều doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn. Do vậy, UBTVQH đề nghị QH cho phép quy định mức tiền chậm nộp thuế là 0,03%/ngày.

Bên cạnh đó, còn có ý kiến Luật Quản lý thuế đã quy định cụ thể trách nhiệm của các cơ quan quản lý thuế trong việc chậm hoàn thuế cho người nộp thuế. Đề nghị cần quy định cụ thể nội dung này trong Luật.

Vấn đề này, UBTVQH, giải trình: Tại khoản 5 Điều 60 của Luật quản lý thuế hiện hành quy định, trong trường hợp cơ quan quản lý thuế chậm ra quyết định hoàn thuế do lỗi của cơ quan quản lý thuế thì ngoài số tiền thuế phải hoàn, cơ quan quản lý thuế còn phải trả tiền lãi theo quy định của Chính phủ. Chính phủ đã ban hành Nghị định số 83/2013/NĐ-CP quy định mức lãi suất phải trả cho người nộp thuế khi cơ quan thuế chậm hoàn thuế.

Tuy nhiên, thực tế hiện nay, có nhiều trường hợp cơ quan thuế chậm hoàn tiền thuế cho doanh nghiệp nhưng chậm thực hiện trả tiền lãi, chậm hoàn thuế cho người nộp thuế, ảnh hưởng đến quyền lợi của người nộp thuế. Do vậy, UBTVQH đề nghị Chính phủ sớm sửa đổi Nghị định số 83/2013/NĐ-CP và chỉ đạo cơ quan thuế thực hiện nghiêm việc chi trả tiền chậm hoàn thuế cho người nộp thuế.

Viết Hà

Bình luận

ZALO