Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Thứ bảy, 24/07/2021 02:45 GMT+7

Mẹ và nỗi đau

Biên phòng - “Má nhớ chúng nó lắm! Hàng đêm, cứ tưởng tượng chúng nó về thăm má...” - Mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Nhất cất giọng phều phào. 7 người con của mẹ đã bị bom đạn giặc thù cướp đi, để mẹ sống lặng thầm với những dòng ký ức bất tử cùng ngọn đèn đêm.

Hằn sâu những vết chân chim

Mẹ Nguyễn Thị Nhất, ở thôn 6, xã Nghĩa Lâm (huyện Tư Nghĩa, Quảng Ngãi). Mẹ có 9 người con thì 7 bị bom đạn cướp mất tuổi thanh xuân. Hiện, 3 anh chị đã được Nhà nước công nhận là liệt sĩ. Sức nặng đó kéo dài trong ngần ấy năm trời đè lên đôi vai mẹ, hằn sâu trên những vết chân chim nơi khóe mắt.

Đêm ngày 1, rạng sáng ngày 2-1-1968, khi cùng đồng đội đánh vào quận lỵ Nghĩa Hành. Trận đánh không cân sức, cũng như nhiều đồng đội khác, anh Huỳnh Trinh - con trai mẹ Nhất đã anh dũng hy sinh. Mùa xuân năm ấy, anh vừa bước sang tuổi 18, cái tuổi thanh xuân tràn đầy ước mơ. 

 87710.gif
Mẹ Nhất hàng ngày lẳng lặng bên tấm di ảnh của con. Ảnh: V.C

“Thằng Trinh xuống đồng bằng lấy gạo mấy bữa nữa mới về...” - Anh em ở xã giấu má, anh cán bộ liên lạc trong đơn vị cũng giấu má. Nhưng bằng linh cảm của người mẹ, bà đã cảm nhận một nỗi đau đang len vào trong lòng - nỗi đau mà không ai muốn trở thành sự thật. Bởi má đã mất mấy người con, chẳng lẽ bom đạn lại tiếp tục cướp đi người con thân yêu của má!

“Tụi con nói thiệt cho má nghe đi, nỡ nó thương vong thì kể cho má biết chừng?” - Má gặng hỏi, nhưng chỉ nhận được những ánh mắt giấu vội. Một tuần sau ngày đánh vào trung tâm huyện lỵ Nghĩa Hành, đơn vị anh Trinh mới dám báo cho má: “Anh Trinh hy sinh rồi. Mấy ảnh vô trỏng mà không lấy được xác, ảnh giờ nằm lại với đồng đội”.

Nỗi đau xé lòng chưa nguôi thì 2 đêm sau, anh em lại khiêng anh Huệ - con trai của mẹ về. Trên người chỉ độc một chiếc quần đùi (anh là đặc công), mảnh đạn và thương tích khắp người. Anh hy sinh khi đánh vào khu vực chợ Chùa của huyện lỵ Nghĩa Hành. Lúc anh hy sinh, đơn vị mang chôn cất vội, sau lại đào lên đưa về quê nhà, trong hốc vết thương và trên người anh còn vương đầy đất, cát. 

Anh Thuận, người con trai còn sống duy nhất của má Nhất kể lại: Giữa đêm khuya, sờ vào người anh Huệ, má òa khóc. Đêm đó, gia đình và đồng đội chôn anh trong vườn nhà. Cả ngày má lẳng lặng không nói gì, ánh mắt chết trân, bước chân của má liêu xiêu tựa như người chưa thoát khỏi cơn mơ.

Canh từng bước quân thù

Xã Nghĩa Lâm, huyện Tư Nghĩa nằm sát dòng sông Trà. Đôi bờ, lúa, mía quanh năm xanh mơn mởn - một vùng quê quá đỗi yên bình. Chiến tranh đã khiến làng quê nơi đây mau chóng trở nên tiêu điều, xơ xác. Vùng quê này trở thành bãi thải để máy bay trút chất độc da cam chết người. Những thùng phuy chứa chất độc da cam rải rác khắp xóm, bốc mùi nghẹt thở, cay xè mắt. Hơn 35 năm, vết thương giờ vẫn chưa lành – Nghĩa Lâm là địa phương đứng đầu về số lượng nạn nhân da cam/đioxin của Quảng Ngãi – trên 400 người. Con số này vẫn từng ngày tăng lên.

Những năm chiến tranh ác liệt, địch dồn dân vào ấp chiến lược. Nhưng hàng rào, bãi mìn đều không ngăn được mối quan hệ gắn bó máu thịt của quân với nhân dân. Căn nhà của má Nhất trở thành cơ sở tin cậy để anh em trên cứ về nắm tình hình và tiếp tế lương thực đưa lên cho đàng mình.

Khi từ trên núi Hỏa Đài xuống, anh em nhìn vào ngôi nhà nằm sát hàng rào là có thể đoán được sự bố phòng của địch. Bao đêm trường, mẹ Nhất luôn thao thức cùng ngọn đèn bên khung cửa để làm tín hiệu báo với anh em bộ đội về tình hình trong ấp. “Nhà mẹ Nhất sáng đèn” - giữa những năm tháng chiến tranh ác liệt, đối với các chiến sĩ cách mạng, hình bóng và việc làm của mẹ đã trở thành câu chuyện huyền thoại. Còn mẹ, khi gặp các chiến sĩ, bà thường ôm vai dặn dò, thương yêu các anh như chính những người con ruột thịt của mình.

Trong những ngày bom đạn, một đại tang giáng xuống lưng mẹ Nhất, cùng lúc, cả ba người con đều bị chết vì một quả pháo ác nghiệt. Lúc 8giờ sáng, ngày 9-2-1964, khi địch đang lùa nhân dân về thôn 4, chị Huỳnh Thị Biện đưa hai em là Huỳnh Thị Mân, Huỳnh Mỹ đến hầm tránh pháo. Một tiếng nổ chát chúa. Mẹ hớt hải chạy về, bước chân ngã dúi khi hàng xóm báo tin: “Con Biện và hai em lãnh trọn quả pháo chết hết rồi!”. Xương thịt của ba chị em trộn lẫn vào đất đá. Cả làng đến đưa tiễn những người con của má về đất lạnh trong tiếng đạn pháo ùng oàng vọng về từ núi rừng.

Chiến tranh ngày càng ác liệt, tất cả những người con trai của mẹ lớn lên đều nhất loạt cầm súng để trả thù cho quê hương. Anh Huỳnh Trinh, Huỳnh Huệ trở thành những chiến sĩ đặc công dũng cảm, xẻ dọc rừng núi, xông pha nơi chiến trường. Thỉnh thoảng, giữa đêm khuya, các anh lại ghé về thăm mẹ, trên người ướt đẫm sương đêm.

“Ráng giải phóng rồi về luôn với má” - Chị Ca, con gái mẹ kể. Lần nào gặp mấy ảnh, má cũng dặn dò là phải giải phóng quê nhà. Chiến tranh, mất mát, nhưng lòng mẹ thật bao dung và vĩ đại, khi chôn chặt nỗi đau trong lòng, tiễn các con ra trận. Mẹ đã trao cho các anh niềm tin mãnh liệt - chiến tranh nhất định rồi sẽ kết thúc.

7 người con chung một ngày giỗ

Đưa hài cốt của anh Trinh đã hy sinh trong trận đánh đêm ngày 1, rạng sáng ngày 2-1-1968 về mai táng ở quê nhà, niềm vui xen lẫn nỗi đau trong lòng. Má Nhất tự tay làm mâm cơm cúng, đặt lên bàn thờ đĩa tôm, đĩa cá - món ăn quen thuộc hồi các anh chị còn sống. Trên bàn thờ, những đốm nhang đỏ hoe như cặp mắt của má thao thức nhớ con. Má đưa bàn tay gầy guộc sờ soạng lên khuôn mặt các anh, mắt nhìn đăm đăm vào tấm di ảnh như cố tìm lại hình bóng của con. Nước mắt của má giờ đã cạn khô, như con suối Lâm uốn khúc ở cạnh xóm, giữa dòng quặn lên những bãi bồi.

7 bát cơm, 7 đôi đũa, đọc tên cả 7 người con, nhưng tất cả chỉ giỗ chung vào ngày mùng 10, tháng Chạp - ngày mà cả dân tộc từng chờ mong đại thắng, ngày có nhiều chiến sĩ đã hy sinh. Còn ngày 19-7 thì má làm cơm giỗ chồng. Ông đã “bỏ má ra đi” khi mới 41 tuổi, để lại má một mình trên nhân gian, sớm hôm tần tảo chạy giặc, nuôi con khôn lớn từng ngày.

“Nó mới về phát hàng rào, thấy nó, má hỏi, ủa con về hồi nào? Nó hổng nói gì hết, sáng ra lại đi mất...” - Má ngồi bên hiên với những câu chuyện về các anh. “Đêm nào má cũng mơ thấy các con, lúc nào má cũng nói Sáu (Huệ), Tám (Trinh) “chúng mày còn sống thì má đã có cháu bồng”... - Anh Thuận, con trai mẹ giọng trầm ngâm.

Những ngày đất nước còn bom đạn, hàng đêm mẹ thao thức chờ tin các anh, thắp đèn canh từng bước quân thù. Đất nước giải phóng, những đoàn quân rầm rập qua làng năm xưa đã không còn. Chỉ còn mình mẹ ngày ngày ngồi đó với dòng ký ức bất tử mang hình bóng “thằng Trinh, thằng Huệ, con Biện, con Lành...”. 43 năm, mẹ vẫn thao thức với nỗi thương nhớ các con, dù mẹ biết con của mình đã hóa thân vào Tổ quốc.

Lê Văn Chương

Bình luận

ZALO