Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Thứ sáu, 28/01/2022 12:39 GMT+7

“Mạch ngầm” văn hóa vùng biên giới (bài 3)

Biên phòng - Khi các nghệ nhân được vinh danh có được một đời sống tốt sẽ là động lực để sẽ toàn tâm, toàn ý với việc gìn giữ, trao truyền di sản văn hóa, mang lại lợi ích thiết thực cho cộng đồng, cho thế hệ tương lai.

Bài 3: Tạo động lực để nghệ nhân bảo tồn di sản văn hóa

Các nghệ nhân là những người có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa của dân tộc mình. Tuy nhiên, để các nghệ nhân có điều kiện tốt hơn phát huy khả năng gìn giữ, trao truyền những nét đẹp ấy, việc cơ bản nhất là cần đảm bảo các chế độ, chính sách cho họ để họ an tâm bảo tồn, truyền giữ, phát huy di sản văn hóa của tộc người nói riêng và đa dạng văn hóa Việt Nam nói chung.

Tự túc để bảo tồn văn hóa

Có nhiều đóng góp và được coi là nhân tố quan trọng trong việc bảo tồn di sản văn hóa dân tộc nhưng trên thực tế đa số nghệ nhân đều lưu giữ, bảo tồn, truyền dạy các giá trị văn hóa chủ yếu bằng tình yêu, niềm đam mê và lương tâm của mình chứ họ chưa có hoặc có rất ít chế độ đãi ngộ dành cho nghệ nhân.

Ông Trần Sìu Thu hướng dẫn các thành viên Câu lạc bộ hát Then xã Hoành Mô tập luyện bài then mới. Ảnh: Thanh Thuận

Nghệ nhân người Tày Trần Sìu Thu (xã Hoành Mô, huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh), Chủ nhiệm Câu lạc bộ hát Then xã Hoành Mô cho biết, ông đã đồng hành, hướng dẫn các thành viên câu lạc bộ từ khi câu lạc bộ mới thành lập (năm 2012) đến hôm nay nhưng không được nhận chế độ trợ cấp gì. Ông làm vì niềm đam mê với di sản Then của cha ông để lại mà không bao giờ nghĩ đến công sức của mình bỏ ra có được đền đáp gì.

Ông Thu và các thành viên Câu lạc bộ hát Then xã Hoành Mô đều phải tự bỏ tiền túi ra đóng góp duy trì hoạt động của câu lạc bộ. Các thành viên hầu hết là người dân tộc Tày, dù làm nhiều ngành nghề khác nhau, bận rộn với công việc, gia đình, nương rẫy, nhưng các chị em đều nhiệt tình tham gia sinh hoạt duy trì câu lạc bộ. Hơn nữa, ông còn hướng các nghệ nhân trong câu lạc bộ vận động lớp trẻ theo học, tận tâm truyền dạy cho lớp trẻ với mong muốn di sản của cha ông được gìn giữ, bảo tồn lâu bền ở nơi nó đã sinh ra.

Ông Trần Sìu Thu mong muốn Nhà nước, địa phương quan tâm hơn trong việc hỗ trợ kinh phí hoạt động cho câu lạc bộ và có chút hỗ trợ để các nghệ nhân bớt khó khăn và có thể toàn tâm, toàn ý với việc bảo tồn gìn giữ, trao truyền di sản hát Then, đàn tính.

Ông Lò Văn Cư (xã Noong Luống, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên) rất am hiểu chữ Thái cổ, đã từng đứng 2 lớp truyền dạy chữ Thái cổ cho người dân trong xã Noong Luống. Bởi tình trạng nhiều người Thái ở địa phương học chữ Thái cải tiến nên không biết đọc, biết viết chữ Thái cổ nên ông Lò Văn Cư đã đứng ra truyền dạy cho các thế hệ trẻ về chữ viết truyền thống của dân tộc mình.

Tuy nhiên, do ông đã có lương hưu từ nghề dạy học trước kia nên hằng tháng ông không được hưởng bất kỳ khoản trợ cấp nào dành cho nghệ nhân. Ông chỉ biết tâm huyết, cảm thấy phải có trách nhiệm với di sản cha ông để lại mà dành thời gian giảng dạy cho những người chưa biết chữ Thái cổ với mong muốn, qua đó, họ có thể tìm hiểu về văn hóa của người Thái từ những câu ca dao, tục ngữ, bài hát... trong những cuốn sách cổ mà cha ông đã để lại…

Cần có chế độ đãi ngộ xứng đáng cho các nghệ nhân

Mặc dù đã được vinh danh và phong tặng danh hiệu cao quý Nghệ nhân Nhân dân (NNND), Nghệ nhân Ưu tú (NNƯT) trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể, nhưng vẫn còn rất nhiều NNND và NNƯT đang phải sống trong cảnh tuổi già sức yếu, không có trợ cấp hoặc mức trợ cấp ít ỏi, không được bảo đảm cuộc sống tốt để có thể truyền dạy di sản cha ông đã để lại. Do đó, vấn đề đãi ngộ nghệ nhân sau vinh danh cũng đang là vấn đề cần phải đặc biệt quan tâm.

Nghị định 109/2015/NĐ-CP ngày 28-10-2015 của Chính phủ về hỗ trợ đối với NNND và NNƯT có thu nhập thấp, hoàn cảnh khó khăn (sau đây gọi là Nghị định 109) thực hiện từ năm 2016 đến nay quy định trợ cấp sinh hoạt hằng tháng tùy theo mức độ hoàn cảnh của các nghệ nhân, ngoài ra, còn hỗ trợ bảo hiểm y tế, mai táng phí khi qua đời. Theo đó, có 3 mức hỗ trợ là 1 triệu đồng, 850.000 đồng và 700.000 đồng cho mỗi nghệ nhân hằng tháng. Tuy nhiên, không phải NNND và NNƯT nào cũng được hưởng.

Nghệ nhân Điểu K'lung (xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông) là nghệ nhân thuộc nhiều sử thi M'nông nhất với gần 200 sử thi M'nông. Ông được mệnh danh là “báu vật sống” của sử thi Tây Nguyên. Nghệ nhân Điểu K'lung từng được Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam tặng Kỷ niệm chương Vì sự nghiệp khoa học xã hội và Bằng khen về thành tích sưu tầm, hát và truyền dạy sử thi.

Nghệ nhân Điểu K’Lung với những cuốn sử thi ông góp công sưu tầm, biên dịch. Ảnh: Nguyễn Hà

Năm 2003, Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam phong tặng ông danh hiệu NNND và Kỷ niệm chương Vì sự nghiệp văn nghệ dân gian. Thời gian qua, ông đã cố gắng truyền dạy cho một số em nhỏ M'nông biết hát kể sử thi bằng tiếng mẹ đẻ của mình. Ông là người có đóng góp rất lớn vào dự án nghiên cứu, sưu tầm, biên dịch và xuất bản sử thi Tây Nguyên. Tuy nhiên, ở tuổi 80, ông vẫn sống nghèo khó, tạm bợ trong ngôi nhà nhỏ cũ kĩ mà tài sản là hàng trăm cuốn băng đĩa, bản thu âm cũng như các cuốn sách ghi chép lại sử thi truyền miệng của người M’nông, không có khoản trợ cấp nào.

Nghệ nhân Đỗ Duy Thủy (xã Xuân Trường, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa) đã gắn bó với trò Xuân Phả suốt 30 năm. Không chỉ là người dày công sưu tầm và tích cực cùng với địa phương hoàn thiện các trò diễn đưa trò Xuân Phả trở thành Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2016, mà nghệ nhân Thủy còn rất say mê, tích cực tham gia các hoạt động truyền dạy lại trò Xuân Phả cho thế hệ trẻ; và cùng với các thành viên trong đội trò Xuân Phả thực hiện việc trình diễn, tham gia biểu diễn trong các sự kiện quan trọng của tỉnh Thanh Hóa, của đất nước...

Với những đóng góp ấy, năm 2018, ông được vinh danh là NNƯT. Tuy nhiên, từ sau khi được vinh danh đến nay, mặc dù là lao động tự do, thu nhập bấp bênh và ông cũng đã làm hồ sơ đề nghị các cấp, các ngành để được nhận mức hỗ trợ theo Nghị định 109, nhưng đến nay vẫn chưa được xem xét. Ông mong Đảng, Nhà nước có chế độ, chính sách đãi ngộ cho nghệ nhân thiết thực hơn để lớp nghệ nhân như ông và những người tâm huyết yên tâm bảo tồn, phát huy và trao truyền di sản văn hóa phi vật thể cho thế hệ kế cận.

Giáo sư, Tiến sĩ Lê Hồng Lý, Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam chia sẻ, phần lớn nghệ nhân giỏi, tâm huyết với di sản văn hóa dân tộc trên cả nước đều là những người nghèo, người DTTS sống ở những vùng xa xôi, hẻo lánh, tuổi cao. Chính sách của Nhà nước không dễ đến được với họ, nhất là phải trải qua những thủ tục hành chính bắt buộc ở địa phương. Có những nơi, lãnh đạo cũng không nắm được chủ trương này dành cho nghệ nhân. Do đó, nhiều nghệ nhân vẫn chưa nhận được trợ cấp.

Trước xu thế phát triển của xã hội, lớp trẻ không mặn mà với di sản văn hóa truyền thống, các nghệ nhân chính là những người lưu giữ di sản văn hóa phi vật thể trong tâm thức, trí nhớ của họ.

Do đó, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể còn đồng nghĩa với việc quan tâm, bảo vệ, phát huy vai trò của nghệ nhân. Nhà nước đã tôn vinh các nghệ nhân, giờ là trách nhiệm của địa phương thực hiện đúng, đủ, kịp thời những chính sách dành cho họ. Điều này không chỉ đề cao tính nhân văn trong chính sách của Đảng, Nhà nước mà còn phát huy được các giá trị di sản văn hóa quý báu mà các nghệ nhân (đều đã bước sang tuổi xưa nay hiếm) lưu giữ suốt một đời.

Khi các nghệ nhân được vinh danh có được một đời sống tốt sẽ là động lực để sẽ toàn tâm, toàn ý với việc gìn giữ, trao truyền di sản văn hóa, mang lại lợi ích thiết thực cho cộng đồng, cho thế hệ tương lai.

Thanh Thuận

Bình luận

ZALO