Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Thứ tư, 29/09/2021 12:26 GMT+7

Diễn đàn Quốc hội:

Luật Báo chí mới: Đảm bảo quyền tự do báo chí và quyền được tiếp cận thông tin

Biên phòng - Trong tuần làm việc cuối cùng của kỳ họp thứ 11, Quốc hội đã thông qua 7 đạo luật quan trọng, nhằm tiếp tục hoàn thiện Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân. Trong đó, Luật Báo chí (sửa đổi) có hiệu lực từ ngày 1-1-2017 và Luật Tiếp cận thông tin có hiệu lực từ ngày 1-7-2018, với nhiều nội dung mới thể hiện đúng tinh thần của Hiến pháp năm 2013. Các quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận, quyền tiếp cận thông tin… đã được Hiến pháp bảo đảm và quy định rõ trong 2 đạo Luật này.

mgpr_4
Nhà nước cần có chính sách đặt hàng báo chí phục vụ đồng bào vùng dân tộc thiểu số. Ảnh: HL

Cơ quan báo chí không phải là doanh nghiệp, hoạt động không nhằm mục đích kinh doanh

Luật Báo chí (sửa đổi) gồm 6 chương, 61 điều triển khai nội dung quan trọng được quy định tại Điều 14, Điều 25 của Hiến pháp năm 2013 quy định về quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí. Đây là một nội dung được thảo luận nhiều nhất vì tự do báo chí, tự do ngôn luận thực tế là một phương diện thể hiện dân chủ ở nước ta.

Trên tinh thần đó, Luật đã dành Chương II với 4 điều quy định cụ thể về quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân. Trong đó quy định công dân có quyền: Sáng tạo tác phẩm báo chí, cung cấp thông tin cho báo chí, phản hồi thông tin trên báo chí, tiếp cận thông tin báo chí, liên kết với cơ quan báo chí thực hiện sản phẩm báo chí, in và phát hành báo in; góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức của Đảng, cơ quan Nhà nước và các tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp và thành viên của các cơ quan, tổ chức đó.

Cơ quan báo chí có trách nhiệm đăng, phát sóng, kiến nghị, phê bình, tin, bài, ảnh và tác phẩm báo chí khác của công dân phù hợp với tôn chỉ, mục đích và không vi phạm nội dung cấm. Trong trường hợp không đăng, phát sóng phải trả lời và nêu rõ lý do khi có yêu cầu.

Trước ý kiến đề nghị bổ sung quy định cấm nhà báo, người làm báo phát ngôn trên mạng xã hội khác hoặc trái với tôn chỉ, mục đích của cơ quan báo chí mình đang làm việc. Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh thiếu niên và Nhi đồng Nguyễn Thanh Hải giải trình: "Quyền tự do ngôn luận của công dân đã được Hiến pháp quy định, không thể đưa nội dung này vào luật. Trường hợp thấy cần thiết phải quản lý các hoạt động trên, cơ quan báo chí có thể quy định nội dung này tại quy chế hoạt động của cơ quan báo chí đó".

Bên cạnh đó, Luật dành một phần rất thỏa đáng để bao quát một cách hệ thống những nội dung và hành vi bị cấm trong hoạt động báo chí (Điều 9). Quy định này nhằm hạn chế một cách kiên quyết những hành vi lạm quyền của báo chí "xâm phạm bí mật đời tư" của công dân. Theo đó, Luật cấm báo chí đưa tin quy kết tội danh khi chưa có bản án của tòa án; thông tin ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường về thể chất và tinh thần của trẻ em; thông tin về những chuyện thần bí gây hoang mang trong xã hội, ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội và sức khỏe của cộng đồng.

Mặt khác, Luật Báo chí tạo khung pháp lý rộng rãi và nghiêm khắc, đồng thời bảo hộ mạnh mẽ bằng các định chế cần và đủ cho cơ quan báo chí, nhà báo tác nghiệp một cách tự do theo khuôn khổ các quy định từ việc cung cấp thông tin cho báo chí, tới quyền và nghĩa vụ bảo mật nguồn tin của cơ quan báo chí và nhà báo. "Cấm hành vi đe dọa, uy hiếp tính mạng, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của nhà báo, phóng viên; phá hủy, thu giữ phương tiện, tài liệu, cản trở nhà báo, phóng viên hoạt động nghề nghiệp đúng pháp luật" (Khoản 12, Điều 9).

Nhà báo chỉ phải tiết lộ người cung cấp thông tin khi có yêu cầu bằng văn bản của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh và tương đương trở lên cần thiết cho việc điều tra, xét xử tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng - thay vì để phục vụ cho việc điều tra, xét xử tội phạm "nghiêm trọng" như quy định cũ. Các cơ quan này có trách nhiệm tổ chức bảo vệ người cung cấp thông tin sau khi tên của họ được tiết lộ. Ngoài ra, Luật cũng đã bổ sung quy định nhà báo được hoạt động nghiệp vụ báo chí tại các phiên tòa xét xử công khai, được bố trí khu vực riêng để tác nghiệp, được liên lạc trực tiếp với người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng để lấy tin, phỏng vấn theo quy định của pháp luật.

Một điểm mới trong Luật Báo chí (sửa đổi) là bảo đảm và mở rộng sự liên kết nhiều chiều và sâu sắc trong hoạt động báo chí. Điểm nổi bật cần nhấn mạnh là, sự liên kết này bảo đảm đối tượng người đọc được quyền hưởng lợi về nội dung và các cơ quan báo chí được quyền hưởng lợi về kinh tế trên thực tế, mà trước đây, việc liên kết này chỉ thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật. Cùng với đó là quy định mở hơn về hoạt động kinh doanh, dịch vụ của cơ quan báo chí, thể hiện tại Điểm c, Khoản 2, Điều 21 quy định: Nguồn thu của cơ quan báo chí gồm thu từ hoạt động kinh doanh, dịch vụ của cơ quan báo chí, các đơn vị trực thuộc cơ quan báo chí. Nhưng xác định rõ "Cơ quan báo chí không phải là doanh nghiệp, hoạt động không nhằm mục đích kinh doanh".

Mọi công dân bình đẳng trong tiếp cận thông tin

Luật Tiếp cận thông tin gồm 5 chương, 37 điều quy định về việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân; nguyên tắc, trình tự, thủ tục thực hiện việc tiếp cận thông tin; trách nhiệm, nghĩa vụ của cơ quan Nhà nước trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân.

Đồng thời, Luật Báo chí (sửa đổi) quy định Nhà nước cần có chính sách: Đặt hàng báo chí phục vụ nhiệm vụ chính trị, an ninh, quốc phòng, thông tin đối ngoại, phục vụ thiếu niên, nhi đồng, người khiếm thính, khiếm thị, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa, miền núi, biên giới, hải đảo và các nhiệm vụ trọng yếu khác, phù hợp với từng giai đoạn theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ; hỗ trợ cước vận chuyển báo chí phục vụ nhiệm vụ, đối tượng và địa bàn nêu trên.

Theo đó, mọi công dân đều bình đẳng, không phân biệt đối xử trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin. Thông tin được cung cấp phải chính xác, đầy đủ. Việc cung cấp thông tin phải kịp thời, minh bạch, thuận lợi cho công dân, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Việc hạn chế quyền tiếp cận thông tin phải do luật định trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng. Công dân thực hiện quyền tiếp cận thông tin không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để người khuyết tật, người sinh sống ở khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thực hiện quyền tiếp cận thông tin.

Công dân cũng không được tiếp cận thông tin, nếu việc tiếp cận gây nguy hại đến lợi ích của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến quốc phòng, an ninh, quan hệ quốc tế, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng, gây nguy hại đến tính mạng, cuộc sống hoặc tài sản của người khác; thông tin thuộc bí mật công tác; thông tin về các cuộc họp nội bộ của cơ quan; các tài liệu do cơ quan soạn thảo cho công việc nội bộ.

H.L

Bình luận

ZALO