Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Chủ nhật, 20/09/2020 07:55 GMT+7

Lời ru của thầy

Biên phòng - Gặp người thầy giáo lành lẽ như cây rừng lá bản trên biên giới Quan Sơn, Thanh Hóa, tôi chợt nghĩ đến những câu thơ trong bài "Lời ru của thầy" của tác giả Trần Ngọc Hưởng: "Mỗi nghề có một lời ru/ Dở hay thầy cũng chọn ru khúc này.../ Hẳn là thầy cũng già thôi/ Hóa thân vào mỗi cuộc đời các em/ Thì dù phấn trắng bảng đen/ Hành trang ấy đủ thầy đem theo mình". Người thầy giáo mang trên vai sứ mệnh gieo chữ trong sương ấy là thầy Phạm Thế Tư, giáo viên điểm trường Mùa Xuân, xã Sơn Thủy.

9zhn_10c
Thầy giáo Phạm Thế Tư cùng các thầy cô giáo điểm trưởng Mùa Xuân hội ý bài giảng . Ảnh: Tuệ Lâm

Kiên trì dạy chữ nơi biên giới

Trời đông giá, hai gian nhà thưng nứa gió luồn cửa trước, sương vào cửa sau là khu nghỉ của các thầy cô điểm trường Mùa Xuân tuềnh toàng như hết mức có thể. Bên bếp lửa ngồi canh rét qua đêm với khách dưới xuôi, có cảm giác sự nhiệt tình, đôn hậu của thầy giáo Phạm Thế Tư, người đã tận tụy suốt mấy mươi năm qua vì sự nghiệp gieo chữ trên bản nhỏ vùng biên này có sức ấm lan tỏa hơn ngọn lửa.

Sinh năm 1964, thầy giáo Phạm Thế Tư sau khi tốt nghiệp ngành Sư phạm đã xin về quê hương giảng dạy. Vậy là 23 bản vùng cao của hai xã Na Mèo và Sơn Thủy, trong đó có những bản đặc biệt khó khăn như Khà, Xía Nọi, Mùa Xuân, Cha Khót... đều đã in dấu chân, quen giọng giảng bài của thầy. Và Mùa Xuân, cái bản nhỏ mang tên gọi đẹp đẽ nhưng khó khổ muôn vàn này cũng chênh vênh quá đỗi. Người già kể rằng nơi "thâm sơn cùng cốc" giáp biên giới Việt Lào mà người dân bản địa còn chưa mấy ai đặt chân ấy cách đây 20 năm lại là "điểm đến" của hàng trình di cư liều lĩnh của đồng bào Mông phía Tây Bắc. Từ mấy chục hộ dân ban đầu, giờ đây một chòm bản đã xanh cây ấm bụi, có chi bộ, có trường học, có đường bê tông và điện thắp sáng...

Nhưng cái đói, cái nghèo đã khiến cái chữ cũng nặng trĩu trên vai những người thầy. Thầy Thao Văn Dính, giáo viên điểm trường bản Mùa Xuân nói với chúng tôi rằng, lúc các em học sinh nghỉ nhiều, thầy Tư đều động viên chúng tôi tranh thủ ngoài giờ, đến từng nhà, thậm chí vào tận trong rừng, lên tận nương rẫy... để vận động các em trở lại trường. Dù một lớp chỉ có 2 hay thậm chí 1 học sinh thì trường vẫn giữ nguyên lớp học. Chỉ mong rằng, mỗi ngày đến trường, sẽ không còn thấy em nào phải bỏ học vì mưu sinh...

Nói chuyện chưa bén, thì đầu hồi đã eo óc tiếng gà. Nồi măng luộc bốc hơi nghi ngút, các thầy gắp ra bát, xơi cơm tẻ ra mâm cùng một đĩa cá kho rồi mời khách ăn sáng. Những con cá bé xíu, ăn cùng cơm béo ngậy và vị măng nhằng nhặng đắng lạ miệng khiến chúng tôi đánh hết veo nồi cơm nấu cho cả bữa trưa của hai thầy giáo. Anh bạn cùng đoàn hỏi thầy Tư, cá gì mà ngon thế thì nhận được câu trả lời làm chúng tôi chỉ muốn chạy ngay ra sau nhà mà nôn: "Cá đâu chú, nòng nọc dưới suối đấy". Vậy ra những ngày đông tháng giá, hàng hóa dưới xuôi không lên kịp hoặc đàn gà, đàn vịt tăng gia lạnh mà chết, không cho trứng, thì món "đặc sản" của các thầy, các cô nơi đây là măng luộc, rau má dại cùng nòng nọc, nhái xanh kho mặn với ớt hiểm cho hết tanh.

Tận tụy chữa bệnh cứu người

Ở cái bản nhỏ vùng biên này, thầy Phạm Thế Tư còn kiêm thêm nghề thầy thuốc. Lý do là bởi từ bản Mùa Xuân muốn đi xe máy xuống trung tâm xã mất nhiều thời gian, nếu gặp mưa thì càng khó di chuyển trên cung đường lầy lội, bên vách đá, bên sâu... nên công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân trong bản chưa được đáp ứng. Nhiều trường hợp ốm nặng phải dùng cáng khiêng đi bộ mất một ngày mới tới trạm y tế xã, đến nơi thì đã không kịp cứu hoặc bị di chứng nặng nề.

Từng được đào tạo kiến thức y tế học đường, trước thực tế đó, thầy Phạm Thế Tư đã cần mẫn tìm các loài thảo dược từ trên núi về trồng để chữa bệnh miễn phí cho mọi người. Vườn thuốc nam ở trường và ở nhà riêng của thầy trong trung tâm xã Xuân Thủy lúc nào cũng xanh um cây thuốc. Ba tháng hè, thầy Tư còn tranh thủ tăng gia, dành dụm tiền để mua dăm loại thuốc tây thiết yếu để đến năm học mới mang lên trường, phòng khi đồng nghiệp, học sinh hoặc dân bản ốm đau thì cứu chữa giúp. Dù đi xa hay gần, dù bệnh nặng hay nhẹ thì người bệnh cũng được hưởng sự chăm sóc, thăm khám miễn phí từ thầy.

Cùng với việc chữa bệnh, thầy luôn giải thích cho bà con hiểu và biết cách ăn uống hợp vệ sinh, nhằm phòng tránh các bệnh thường gặp. Thầy Tư tâm sự: "Hồi mới chữa bệnh, tôi cũng lo lắng vì phong tục tập quán mỗi dân tộc mỗi khác. Chữa khỏi được cho người nào là vui và tích lũy thêm kinh nghiệm. Nhưng cũng có những lúc gặp người bệnh nguy kịch, mình phải trao đổi để người thân của bệnh nhân hiểu rõ, có vậy bà con mới thông cảm cho mình".

t2u7_10b
Vườn thuốc Nam của thầy Tư có hàng chục loại cây thuốc có thể chữa bệnh, cứu người.  Ảnh: Tuệ Lâm

 Suốt mấy chục năm đi dạy tại các bản vùng sâu, chính thầy Tư không nhớ là mình đã chữa khỏi bệnh cho bao nhiêu người, nhưng lại thuộc hàng trăm con đường mòn, lối tắt băng ngang rừng núi để đến các điểm bản. Thầy bảo phải nhớ để mỗi khi có người bệnh cần cứu chữa, thì phải tìm đường ngắn nhất, nhanh nhất để đến nơi, chứ chỉ chậm vài phút là người bệnh sẽ khó cứu. Nhiều lúc đang dạy thì có người gọi điện, thầy lại nhờ đồng nghiệp đứng lớp giúp rồi bươn bả mang túi thuốc đi đến nhá nhem với về, người phờ phạc vì mất sức. Thầy bảo mệt nhưng phải cố, vì bà con nghèo lắm, vùng sơn lam chướng khí dễ dàng quật đổ sức người, điều kiện y tế, thuốc men hạn chế lại cộng với việc người dân vẫn tin vào các hủ tục cúng ma, trừ tà, nên nhiều khi bệnh nhẹ cũng biến chứng thành nặng...

 Đưa con trai đi học, anh Thao Lâu Pó khoe với tôi rằng: "Hai bố con tôi cảm ơn thầy giáo Tư rất nhiều. Không có thầy, hai bố con tôi giờ đã bị mù. Nhờ bài thuốc xông mắt bằng lá rừng  của thầy mà giờ tôi nhìn rõ tất cả mọi thứ, không bị đau rát và đỏ rực như trước nữa. Nhờ vậy, con trai tôi lại tiếp tục đi học và không bị bạn bè xa lánh. Khỏi bệnh, tôi mang con lợn bé xuống tạ ơn thầy, thầy không lấy mà chỉ ra điều kiện phải cho con học hành đến nơi đến chốn".

Một trong những "vấn nạn" mà người thầy thuốc bất đắc dĩ này thường xuyên gặp phải là nạn tử tử bằng lá ngón của đồng bào Mông nơi đây. Chị Thao Thị Mai ở bản Xía Nọi, một bệnh nhân của thầy Tư thẹn thùng kể: "Lúc đó, tôi tưởng mình sắp chết, thầy Tư chạy đến pha một loại nước đặc sền sệt rồi lấy thìa móc họng tôi ra dốc nước vào cổ họng tôi, một lúc sau, tôi nôn hết lá ngón ra ngoài. Sau đó, thầy cho tôi uống nước chanh đường để rửa dạ dày. Thầy còn dặn chồng tôi phải nấu cháo đỗ cho tôi ăn để hồi sức. Tôi đã thoát chết nhờ có thầy Tư, tôi cảm ơn thầy rất nhiều và sẽ không bao giờ dại dột ăn lá ngón nữa". Ngoài chị Mai, còn có chị Sung Thị Dua ở bản Mùa Xuân cùng nhiều chị em khác ở các bản lân cận đã được thầy Tư cứu thoát chết trong gang tấc.

Bữa cơm trưa với món nòng nọc kho đã không còn khiến chúng tôi lợm giọng, sương giá ở nơi lưng chừng núi, lưng chừng mây này cũng không còn làm tê tái bước chân, bởi chúng tôi hiểu, những người dân nơi đây đã cam khó biết bao nhiêu để bám bản, bám đất bảo vệ một vùng biên cương phía Tây Thanh Hóa. Và những người như thầy giáo Phạm Thế Tư, một đời miệt mài gieo chữ, cứu người nơi thăm thẳm Mùa Xuân đã cho tôi một bài học lớn về đức hy sinh, tinh thần tận tụy với nghề, với người dẫu bản thân mình chưa lấy gì dư dả. Để trên đường về xuôi, lòng dịu dàng lan tỏa một cảm giác ấm áp khi được nắm chặt tay người thầy cao gầy, rắn rỏi và ánh mắt đôn hậu lạ lùng.

Tuệ Lâm

Bình luận

Liên kết hữu ích
ZALO