Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Thứ bảy, 22/01/2022 12:13 GMT+7

Kỷ niệm 75 năm Ngày Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946 - 19/12/2021)

Lời hịch của non sông đất nước

Biên phòng - Ngày 19-12-1946, trước việc không thể tránh được một cuộc chiến tranh sẽ bùng nổ do sự cố tình của thực dân Pháp, ngay trong đêm 19-12, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã soạn thảo “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” và công bố vào rạng sáng hôm sau. “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” được coi là một lời hịch cứu nước, là tiếng gọi của non sông kêu gọi tất cả người dân hãy đứng lên, quyết tử để Tổ quốc quyết sinh, để Tổ quốc ta trường tồn cùng muôn đời con cháu mai sau.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm một đơn vị quyết tử của Hà Nội đầu năm 1947. Ảnh: Tư liệu/TTXVN phát

Kế thừa truyền thống của dân tộc

Trong lịch sử chống ngoại xâm, nước ta đã nhiều lần đánh thắng những đội quân xâm lược hùng mạnh, đông đảo. Nguyên nhân là do sự đồng lòng, đoàn kết của cả dân tộc ta trong quyết tâm đánh giặc cứu nước. Quyết tâm đánh giặc cứu nước của nhân dân ta thể hiện rõ trong bài thơ “Nam quốc sơn hà” của danh tướng Lý Thường Kiệt. Để cổ vũ tướng sĩ và toàn thể nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống lại sự xâm lược của nhà Tống vào năm 1077, ông đã làm bài thơ này như một lời Tuyên ngôn độc lập và quyết tâm bảo vệ nền độc lập: “Sông núi nước Nam, vua Nam ở/ Rành rành ghi rõ ở sách trời/ Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm/ Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời”.

Khi cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên - Mông thắng lợi, Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn đã tổng kết nguyên nhân là do “Vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, cả nước góp sức”.

Mùa xuân năm 1418, Lê Lợi khởi binh ở Lam Sơn, xưng là Bình Định vương, truyền hịch đi các nơi để cùng hợp sức chống giặc Minh đang đô hộ nước ta. Sau này, “Bình Ngô đại cáo” đã viết toàn thể nhân dân ta đã tham gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn để giành lại độc lập cho dân tộc với ý chí bất khuất, quật cường: “Ngẫm thù lớn há đội trời chung/ Căm giặc nước thề không cùng sống”.

Cuối năm 1788, trước khi chỉ huy nghĩa quân Tây Sơn hành quân ra Bắc đánh đuổi 29 vạn quân xâm lược nhà Thanh, Nguyễn Huệ đã lên ngôi Hoàng đế và tuyên thệ trước ba quân tướng sĩ và toàn thể nhân dân ta: “Đánh cho để dài tóc/ Đánh cho để đen răng/ Đánh cho nó chích luân bất phản/ Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn/ Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”.

Hào hùng “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”

Ngày 2-9-1945, trong Tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi cả dân tộc Việt Nam cùng góp sức để bảo vệ nền độc lập của dân tộc: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.

Ngay khi thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta (23-9-1945), Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ Trần Văn Giàu đã phát lời kêu gọi: “Hôm nay, Ủy ban Kháng chiến kêu gọi: Tất cả đồng bào, già, trẻ, trai, gái, hãy cầm vũ khí xông lên đánh đuổi quân xâm lược”. Vào ngày 26-9-1945, qua Đài Phát thanh tiếng nói Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng bào Nam Bộ, khẳng định quyết tâm kháng chiến của Trung ương Đảng, Chính phủ và nhân dân cả nước: “Chúng ta nên nhớ lời nói oanh liệt của nhà đại cách mạng Pháp: “Thà chết tự do hơn sống nô lệ”... Chúng ta nhất định thắng lợi vì chúng ta có lực lượng đoàn kết của cả quốc dân”.

Ngày 18-12-1946, dù Chính phủ và nhân dân ta đã thể hiện thiện chí hòa bình để mong xây dựng tình hữu nghị giữa hai nước Việt - Pháp, song thực dân Pháp với dã tâm đô hộ nước ta một lần nữa đã gửi tối hậu thư cho Chính phủ ta đòi tước khí giới của lực lượng tự vệ và quyền kiểm soát Thủ đô Hà Nội.

Đáp lời kêu gọi của Bác và chấp hành mệnh lệnh của Trung ương Đảng, quân dân ta tại các thành phố, thị xã ở bắc vĩ tuyến 16 có quân Pháp chiếm đóng đồng loạt nổ súng đánh địch. Cùng với Hà Nội, quân dân các địa phương khắp Bắc, Trung, Nam đã anh dũng đứng lên chống thực dân Pháp xâm lược. Trong ảnh: Giao liên đưa cán bộ đi. Ảnh: TTXVN

Để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh và tranh thủ sự ủng hộ quốc tế nhằm chống lại cuộc xâm lược của thực dân Pháp, trong “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” (19-12-1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói rõ trước quốc dân đồng bào: “Hỡi đồng bào toàn quốc! Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa! Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên! Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước... Giờ cứu nước đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, để giữ gìn đất nước. Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta!...”.

Khát vọng hòa bình, độc lập, tự do, thống nhất luôn cháy bỏng đối với nhân dân ta, nhưng thực dân Pháp lại muốn đô hộ nước ta như trước. Bởi vậy, nhân dân ta thà hy sinh đến giọt máu cuối cùng để giữ gìn nền độc lập của dân tộc, thống nhất đất nước, tự do cho nhân dân và xây đắp nền hòa bình muôn thuở.

Trong bức thư gửi Chính phủ và nhân dân Pháp nhân dịp năm mới 1947, ngay sau khi toàn quốc kháng chiến nổ ra, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Mong quốc dân Pháp hiểu rằng chúng tôi không thù hằn gì dân tộc Pháp. Chúng tôi bắt buộc phải chiến đấu, chống bọn thực dân phản động đang mưu mô xẻ cắt Tổ quốc chúng tôi, đưa chúng tôi vào vòng nô lệ và gieo rắc sự chia rẽ giữa hai dân tộc Pháp và Việt. Nhưng chúng tôi không chiến đấu chống nước Pháp mới và quốc dân Pháp, chúng tôi lại còn muốn hợp tác thân ái”(1).

“Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh do đó như một lời hịch có sức mạnh tinh thần rất lớn để toàn thể dân tộc Việt Nam tiếp thêm sức mạnh để giành chiến thắng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954). Sau 9 năm chiến đấu vô cùng oanh liệt, quân và dân ta đã đánh thắng thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.

1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.3.

Nguyễn Văn Toàn

Bình luận

ZALO