Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Thứ ba, 25/01/2022 02:49 GMT+7

Ký ức về người thầy mang chữ Việt đến làng Chăm

Biên phòng - "Mỗi khi về quê, có dịp đi ngang qua đồn BP, Umớr lại trào lên nỗi nhớ thầy. Nhớ hình ảnh người thầy mang quân hàm xanh, ngày ngày gò lưng trên chiếc xe đạp, vượt quãng đường làng mấp mô hơn 5km đến lớp học. Nhớ những hôm trời mưa, đường đất nhầy nhụa, thầy đến muộn, những đứa học trò nháo nhác như chim non lạc mẹ, nhưng vẫn cố đợi thầy. Nhớ tiếng hát trầm ấm chứa đầy tình yêu thương của thầy. Chính những hồi ức về thầy đã giúp em luôn vững bước trên con đường đời".

 28010a-001.JPG
 Từ những lớp học chữ Việt của những người thầy mang quân hàm xanh, 100% trẻ em trong độ tuổi đi học của làng Chăm, xã Nhơn Hội đều đã đến trường.

Những chia sẻ trên có lẽ sẽ gợi lại ký ức của không ít người một thời cắp sách đến trường. Tình thầy trò vốn luôn là một thứ tình cảm sâu lắng và bền chặt nhất. Nhưng đối với Umớr, chàng trai người Chăm 26 tuổi này, lớp học đặc biệt của thầy giáo Trí, người thầy mang quân hàm xanh ngày ấy không chỉ đơn thuần mang đến cho em cuộc đời tươi sáng hiện tại, mà còn làm thay đổi diện mạo của cả làng Chăm ấp Búng Lớn, xã Nhơn Hội, huyện An Phú, An Giang.

Umớr kể: Lớp dạy chữ Việt của thầy Trí cách đây cũng đã 20 năm, khi đó, Umớr mới 6 tuổi. Vào thời điểm đó, những đứa trẻ làng Chăm, lứa tuổi của Umớr không vào trường của xã học mà chỉ đến thánh đường để học giáo luật, 4-5 tuổi đã có thể đọc và viết một đoạn kinh Koran. Lúc đó, làng Chăm của Umớr chỉ có 3 người biết chữ Việt. Bởi vậy, khi nghe ông giáo cả "triệu tập" nói về lớp học chữ Việt của thầy Trí, tất cả đều ngơ ngác, chẳng hiểu gì. Lớp học khoảng 25 người, có cả các anh chị lớn hơn Umớr chừng 5-7 tuổi. Những buổi đầu đến lớp, thầy Trí thường phải dùng bánh kẹo để "mua chuộc" tình cảm, tạo sự thân thiết với học trò người Chăm vốn luôn e dè, “cảnh giác”. Bởi từ trước, người làng Chăm của Umớr chỉ được tiếp xúc với giáo lý, không giao thiệp với ai, ngoài những người trong cộng đồng mình.

Những ngày đầu chẳng học gì, chỉ ăn bánh kẹo và nghe thầy hát thôi. Thầy Trí hát hay lắm. Học chữ Việt của thầy một thời gian rồi, Umớr mới biết bài hát đó có tên là "Chiếc lá mùa đông". Vì thầy hát hay nên trước khi lên lớp, học trò vòi vĩnh đòi thầy hát rồi mới chịu học. Umớr nhớ, thầy giáo lúc đó còn trẻ, cỡ 20 tuổi gì đó. Thầy ân cần và chu đáo. Sách vở, đồ dùng học tập toàn của thầy mang đến. Lúc tình thầy trò đã gắn bó, ai cũng chỉ mong ngóng đến giờ học của thầy, vì lúc đó, buổi sáng, người nào cũng phải vào thánh đường học tiếng Chăm, chiều mới học lớp của thầy. Những hôm thầy bận, không dạy học được, thầy lại lóc cóc đạp xe đến tận lớp để thông báo. Umớr còn nhớ hôm đó, trước giờ học, trời mưa to lắm, đợi mãi vẫn chưa thấy thầy đến. Học trò dáo dác như chim non lạc mẹ, nhưng chẳng đứa nào chịu về, từ ngôi nhà sàn chân cao cứ thò cổ nhìn xuống sân, mong ngóng đợi thầy. Cũng phải gần 1 tiếng đồng hồ sau, thầy đến. Dựng nhanh chiếc xe đạp với hai lốp xe quánh đầy bùn nhão, bước lên lớp, thầy thông báo: "Các em hôm nay nghỉ học nhé, mai thầy sẽ dạy bù". Hình ảnh chiếc lốp xe quánh đầy bùn đất cùng lời nói nhẹ nhàng của thầy ngày ấy luôn ấn tượng sâu đậm trong Umớr. Bây giờ, nhìn những lứa học sinh của làng Chăm quê Umớr đi đến những ngôi trường học khang trang trên con đường trải nhựa, Umớr thấy nhớ thương thầy. Lúc đó, ai cũng còn bé, đâu hiểu gì. Bây giờ, khi đã trưởng thành, mới thấu hiểu hết sự vất vả, tấm lòng yêu thương, tận tâm của thầy đối với người Chăm. Nếu không có lớp học ngày ấy, nếu không có sự hy sinh, nhẫn nại của thầy, thì bây giờ bọn trẻ làng Chăm chắc vẫn chỉ quanh quẩn học giáo lý trong thánh đường. Cả cuộc sống của làng Chăm cũng vậy, nếu không biết chữ Việt, làm sao có được sự phát triển như hôm nay. Và... nhờ những dòng chữ Việt đầu tiên đó, Umớr, cậu học trò người Chăm e dè của thầy ngày nào giờ đã trở thành nhân viên tín dụng của một ngân hàng lớn.

Từ câu chuyện của chàng trai người Chăm - Umớr về người thầy giáo mang quân hàm xanh, tôi đã tìm hiểu thông tin về lớp học ngày ấy và được biết Trung úy Nguyễn Hoàng Trung, nguyên Đội trưởng Đội Vận động quần chúng Đồn BP Long Bình, Bộ Chỉ huy BĐBP An Giang là người có công đầu trong việc đưa tiếng Việt vào cộng đồng người Chăm ở huyện An Phú. Chàng Trung úy trẻ măng ngày ấy giờ đã là Thượng tá, Trưởng ban Tuyên huấn, BĐBP An Giang. Ngày ấy, xã Khánh Bình thuộc địa bàn đơn vị anh quản lý, có nhiều người Chăm. Qua công tác điều tra nắm địa bàn, anh Trung nhận thấy, người Chăm phần lớn mưu sinh bằng nghề chài lưới, cuộc sống sinh hoạt hằng ngày chỉ khép kín trong cộng đồng mình, không giao thiệp với xã hội bên ngoài. Trẻ em không đến trường học mà chỉ đến thánh đường học giáo lý, thế hệ người có tuổi biết tiếng Việt chỉ đếm trên đầu ngón tay. Từ đó, anh đã đề xuất với cấp ủy, chỉ huy đồn mở lớp dạy tiếng Việt cho người Chăm trên địa bàn xã.

Sau lớp học thử nghiệm thành công đó, anh được điều về công tác ở Phòng Chính trị, Bộ Chỉ huy BĐBP An Giang, nhưng hình ảnh về cộng đồng người Chăm sống khép mình, lặng lẽ vẫn luôn đau đáu trong anh. Sau đó, anh đã đề xuất với chỉ huy phòng cho mình tiếp tục xuống địa bàn xã Nhơn Hội, một trong những xã tập trung nhiều người Chăm nhất huyện An Phú để vận động người Chăm ở đây học tiếng Việt. Anh Trung nhớ, lúc đó, chỉ huy phòng băn khoăn hỏi, "làm được không đó, 6 tháng hay 1 năm?". Nhưng rồi, chỉ huy phòng vẫn điều động 2 cán bộ của Đại đội 3 cơ động để cùng anh thâm nhập địa bàn. Anh Trung kể: "Lúc đó, mấy anh em chúng tôi cứ như dân đi bụi, lang thang khắp làng trên xóm dưới. Người dân trong làng nhìn chúng tôi với ánh mắt dò xét, xa lạ, thậm chí vào nhà người ta không tiếp đón gì. Lường trước những khó khăn, chúng tôi không chịu bỏ cuộc, tham gia nhiệt tình vào đời sống sinh hoạt của họ, vẫn cứ uống nước người Chăm, ăn cơm người Chăm, vào lễ chùa cùng với người Chăm...".

Từ sự chân tình, "lăn xả" đó, dần dần anh Trung và đồng đội cũng được xem như một thành viên trong cộng đồng. Sau khi đã "quen mặt đặt tên", anh Trung  tiếp tục "lấy lòng" ông giáo cả, người có quyền uy nhất trong cộng đồng Chăm. Biết ông thích cờ tướng, anh Trung thường qua nhà vừa đánh cờ, vừa lân la đề cập đến việc dạy chữ Việt, nhưng ông chỉ nói: "Năm Trung ơi, chúng nó nghèo bỏ đi mót lúa hết rồi, không học đâu". Anh Trung dần dà thuyết phục: "Đi mót lúa chỉ chặt cái bụng thôi. Không học tiếng Việt, không hiểu pháp luật thì làm sao cuộc sống phát triển lên được. Ông cho con cháu đi học cái chữ ở lớp của tui đi. Mót chữ mới là vàng đó". Lâu dần, ông giáo cả cũng có vẻ xuôi xuôi, rồi ông hỏi: "Thế thầy hay cô dạy? Phải là cô dạy, không thì ông giáo lễ không cho đi đâu".

 84410b-001.JPG
 Cậu học trò Umớr ngày ấy giờ đã trưởng thành. Ảnh: Ngọc Khánh.

Tìm hiểu, anh Trung được biết, đối với người Chăm ở xã Nhơn Hội, con gái chưa đi lấy chồng thì phải thực hiện lệnh cấm cung, không được tiếp xúc với đàn ông, đi ra đường phải có người lớn đi kèm. Quyết tâm mở lớp, nhưng tìm đâu ra cô giáo, lính đồn toàn là nam. Đúng lúc đó, một cán bộ của Đại đội 3 cơ động mới lấy vợ lên đây lập nghiệp, chưa có việc làm nên vợ anh ngẫu nhiên trở thành "cô giáo". Thế là, sau gần 3 tháng cùng ăn, cùng ở, cùng sinh hoạt tại cộng đồng, lớp học tiếng Việt đầu tiên của làng Chăm ấp Búng Lớn, xã Nhơn Hội đã khai giảng. Các lớp học sau đó, do đã được sự tin tưởng tuyệt đối của ông giáo lễ nên các cán bộ, chiến sĩ Đội Vận động quần chúng, Đồn BP Bắc Đai đã trực tiếp đứng lớp. Lớp học của thầy Trí trong câu chuyện kể của Umớr là lớp học thứ hai, mở cách lớp học đầu khoảng 1 năm. Sau đó, các lớp học chữ Việt này liên tục được Đồn BP Bắc Đai tổ chức cho đến năm 2005, khi xã đã hoàn thành chương trình phổ cập giáo dục tiểu học. Ông Mếch Snếs, vị giáo cả đương nhiệm bày tỏ vui mừng: "Nhờ có lớp học của BĐBP mà bây giờ, 100% các em trong độ tuổi đi học của làng Chăm ấp Búng Lớn đều đã đến trường. Lúc đó, phong trào học tiếng Việt lan rộng ra cả làng, vì các em mỗi buổi đi học về dạy lại cho những người thân trong gia đình. Bởi vậy, làng Chăm tôi giờ biết đọc, biết viết chữ Việt hết cả rồi. Cuộc sống cũng từ đó mà khấm khá dần lên, người Chăm đã cởi mở hòa nhập được với xã hội".

Trở lại câu chuyện của Umớr, tôi càng hiểu vì sao Umớr biết ơn thầy Trí của mình đến vậy. Lớp học ngày ấy có Umớr và 2 bạn đỗ đại học, hiện đang du học nước ngoài. Còn lại các bạn khác cũng chỉ học được một thời gian nữa rồi bỏ ngang. Hiện tại, các em học sinh làng Chăm của Umớr cũng vậy, cuộc sống còn nhiều khó khăn nên đa phần chỉ học hết lớp 9. Nhưng so với làng Chăm của Umớr 20 năm về trước, đó thực sự đã là một bước ngoặt lớn.

Chia tay Umớr cùng với lời nhắn gửi "chị tìm lại thầy Trí giúp Umớr nha chị. Đã nhiều lần Umớr có hỏi tin tức thầy nhưng không được. Ngày ấy còn bé, nên chắc bây giờ gặp, Umớr không còn nhớ rõ khuôn mặt thầy, nhưng những hình ảnh về thầy, về lớp học đã luôn là một phần ký ức trong Umớr".

Còn nhiều lắm những người lính mang quân hàm xanh trên khắp nẻo biên cương của Tổ quốc, bằng những việc làm thiết thực đã ghi dấu đậm nét trong lòng người dân như vậy.

Ngọc Khánh

Bình luận

ZALO