Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Thứ ba, 09/03/2021 06:15 GMT+7

Kỷ niệm 55 năm Ngày mở đường Hồ Chí Minh trên biển:

Ký ức hào hùng của người máy trưởng tàu không số

Biên phòng - Bị kẹp giữa hai tàu khu trục kiểm soát của Mỹ, cán bộ, chiến sĩ tàu 100 vẫn bình tĩnh lướt sóng như không hề để ý đến xung quanh. Thuyền trưởng quyết định: Nếu bị lộ, tàu địch áp sát mạn, sẽ nổ mìn hủy tàu hy sinh chứ nhất định không để vũ khí rơi vào tay giặc. "Chuyến đi cảm tử" được Trung úy máy trưởng tàu không số mang biệt danh 100 Võ Ngọc Rôm lần đầu tiên kể lại.

7a
Ông Võ Ngọc Rôm kể chuyện "Gọng kìm tàu địch". Ảnh: Mai Thắng

Lễ truy điệu sau 3 ngày cưới vợ

Trong chuyến công tác tại TP Quy Nhơn (Bình Định), tôi tìm đến nhà cựu binh Võ Ngọc Rôm để được nghe ông kể chuyện chiến đấu trên tàu không số năm xưa. Ông Rôm như sống lại những ngày kiêu hãnh nhất của đời thủy thủ, khi tôi đề nghị ông kể lại chuyện chiến đấu trên tàu không số năm xưa. "Chuyện chiến đấu trên tàu không số thì dài lắm, nhưng chuyến đi cảm tử thì bây giờ tôi mới kể. Lý do tôi chưa bao giờ tiết lộ, kể cả vợ con tôi, vì quy định bí mật lúc đó". Ông Rôm ngân ngấn nước mắt nhìn tôi, rồi nhìn ra hành lang trước nhà. Ký ức một thời hoa lửa ùa về trong tâm tưởng ông.

Ngày 15-3-1953, chàng trai Võ Ngọc Rôm rời làng biển Trần Phú, thị xã Quy Nhơn tình nguyện lên đường ra Bắc tập kết. Cũng như bao thanh niên Quy Nhơn thời đó, Rôm ra đi với tuổi đời 19 đầy sức sống và niềm tự hào kiêu hãnh. Hai năm sau, Rôm tình nguyện vào Lực lượng Đoàn 559 (Đường Hồ Chí Minh trên bộ), sau đó gia nhập Đoàn 759, tiền thân của Đoàn tàu không số để vận chuyển vũ khí, đạn dược cho chiến trường miền Nam. Sau chuyến tàu đầu tiên vận chuyển vũ khí vào Nam hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, ông được đơn vị cho về quê nghỉ phép và cưới vợ.

Cũng như bao thanh niên vào chiến trận thời đó, lễ truy điệu sống diễn ra trước lúc bước chân xuống tàu không số. Mẹ ông lúc đó ôm ông trong nghẹn ngào. Người vợ trẻ quay mặt vào tường giấu giọt nước mắt. Còn bố ông thì cầu khấn con trai bình yên trở về. "Lúc đó, tui cũng không cầm lòng được, nhưng vì nhiệm vụ tôi phải ra đi. Vợ tui gạt nước mắt rồi gục đầu vào vai áo bảo, anh đi nhớ viết thư về nhá. Tôi ôm vợ chẳng nói được câu nào. Khi xe của đơn vị đến đón, mẹ tui gào lên kêu: Rôm ơi!" - ông Rôm hồi tưởng lại.

Kiên trung giữa vòng vây địch

 Chiếc xe của Đoàn 759 đỗ đầu làng chài Trần Phú, ông Rôm và hai đồng đội bước chân lên xe, lòng trĩu nặng, phần lo cha già mẹ yếu, phần nhớ thương người vợ trẻ mới cưới 3 ngày đã phải biệt ly. 

Sau 4 ngày đêm hành quân ra Bắc, ông và những đồng đội của mình có mặt tại đảo Bạch Long Vĩ, nhận 1 khẩu DKZ, 50 tấn bộc phá chia đều ra các khoang: Hầm mũi, hầm lái, hầm hàng, hầm máy. Tôi hỏi tại sao phải chia đều cho các khoang? Ông Rôm giải thích: "Vì tất cả các khoang này đều có vũ khí, đạn dược được giấu kín dưới hầm tàu. Nếu bị lộ, chúng tôi sẽ hủy tàu. Toàn bộ vũ khí, đạn dược ở mỗi khoang sẽ bị thuốc nổ đánh tung. Thà mất còn hơn để vũ khí rơi vào tay giặc".

Một đêm giá rét tháng 10-1963, chuyến tàu mang bí số 100 được lệnh rời bến. Trên tàu có 16 cán bộ, chiến sĩ. Ông Rôm lúc đó đeo quân hàm Thiếu úy, giữ chức máy trưởng. Tất cả đều đóng giả ngư dân đánh cá. "Lúc bước xuống hầm tàu, người đầu tiên tôi nghĩ là vợ tôi. Hình ảnh người vợ trẻ ôm mặt chạy vào vách tường khóc làm tôi luôn day dứt. Nhủ thầm trong bụng, nếu sống về gặp vợ và bố mẹ, còn chết thì cũng sẵn sàng" - ông Rôm hồi tưởng. 

Sau một đêm bí mật hành quân ra vùng biển Quảng Ninh, trời vừa rạng sáng, từ đài chỉ huy, chiến sĩ quan sát báo cáo từ xa có 2 tàu khu trục của Mỹ xuất hiện. Qua ống kính, thuyền trưởng xác định, đó là tàu Hạm đội 7 của địch.

"Ngay khi biết rõ tàu địch, Chính trị viên tàu đã triệu tập, hội ý chi ủy và ra quyết tâm chiến đấu. Chúng tôi bàn, nếu bị lộ, chưa hủy tàu vội mà mớm cho tàu địch chạy sát tàu ta rồi mới cho nổ, để tàu địch cũng nổ theo. Tôi được lệnh cho máy tàu mở hết công suất, vượt ra vùng biển quốc tế, sẵn sàng châm 10 tấn thuốc nổ ở khoang máy và hy sinh. Lúc này có nhiều lính Mỹ đứng ngoài lan can tàu quan sát. Chúng cho tàu chạy theo tàu tôi và ép thành gọng kìm. Tàu tôi vẫn băng băng chạy ra vùng biển quốc tế như không hề biết gì. Sóng cấp 7, nhiều chiến sĩ trẻ say sóng nhưng phải cố gắng ăn lương khô để sống và chiến đấu" - ông Rôm kể lại.

Do không nắm chắc "đối phương", nên 2 tàu địch tiếp tục triển khai đội hình "gọng kìm" đeo bám. Chặng đường từ vùng biển Quảng Ninh đến vùng biển Cà Mau gần 3.000km mà tàu của chúng tôi phải hải trình đến 45 ngày liên tục. Đến ngày 46, khi chớm vùng biển Cà Mau, thuyền trưởng quyết định cho tàu chạy luôn sang vùng biển Indonesia, rồi vào vịnh Thái Lan, sau đó sang cảng Kom Song Phom của Campuchia. Thấy tàu ta chạy vào vịnh Thái Lan, 2 tàu khu trục Mỹ không đuổi theo nữa mà nằm ngoài chờ vây bắt. Ông Rôm cho biết: "Lúc đó, cán bộ, chiến sĩ trên tàu thở phào nhẹ nhõm, nhưng cũng rất lo vì chưa đổ được hàng. Sau hơn một tuần ẩn náu ở vùng biển Campuchia, chúng tôi bí mật hải trình về Vàm Lũng, Cà Mau đổ hàng an toàn".

Đoàn viên sau 4.000 ngày ly biệt

Kể từ năm 1963 tạm biệt gia đình và người vợ thân yêu lên đường chiến đấu, đến cuối năm 1974, cũng là ngần ấy thời gian ông Rôm và vợ không liên lạc với nhau. Rất nhiều lần tàu của ông đi qua vùng biển Bình Định, đứng trên mũi tàu, ông nhìn về hướng Quy Nhơn trong màn đêm sương biển, ông rơi nước mắt vì nhớ vợ. "Thiệt tình, suốt 11 năm cách biệt, tôi cũng không biết vợ và bố mẹ còn sống hay không. Mãi đến cuối năm 1974, tôi được về thăm vợ một lần. Sau đó lại biền biệt ở chiến trường B1. Người lính thời chiến trận mấy ai được gần vợ con" -  ông Rôm bộc bạch.

Sau 11 năm chiến đấu, khoác ba lô trở về quê hương. Chiến tranh tàn khốc, làng quê tiêu điều, chỉ lòng người chung thủy. Bà Mùi dắt con gái ra đón chồng nơi làng chài Trần Phú. Họ nhận ra nhau trong niềm vui vỡ òa sau gần 4.000 ngày ly biệt. Bà Mùi khóc nghẹn nói trong nước mắt: "Em nhận 2 lần giấy báo tử, nhưng cả gia đình vẫn tin anh còn sống". Ông Rôm không biết bé gái bên cạnh bà Mùi là con ông. Khi bà Mùi bảo: "Sau ngày anh đi, em đã mang thai", ông Rôm ôm vợ vào lòng vui mừng không nói nên lời. Giọt nước mắt ngậm ngùi trào ra trong niềm hạnh phúc. "Vợ chồng tôi ôm nhau khóc ngay đầu làng. Nhớ lại ngày ấy gian khổ mà hạnh phúc quá" - ông Rôm nhớ lại.

Sau những ngày tháng chiến đấu ở Đoàn tàu không số, ông Rôm tiếp tục vào chiến trường B1 chiến đấu cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng. Sau đó, ông về Lữ đoàn 125 công tác đến năm 1981 nghỉ hưu theo chế độ với cấp hàm Đại úy. Năm 2007, bà Mùi bị tai biến liệt nửa người, ông luôn sát cánh bên người vợ hiền để giúp bà Mùi chiến thắng bệnh tật. Mỗi lần có nhà báo đến hỏi chuyện viết bài, ông Rôm luôn hào hứng kể chuyện. Ký ức thời trai trẻ chiến đấu ở Đoàn tàu không số chưa bao giờ vơi cạn trong tim ông. Những lúc nhớ đồng đội, ông lại lững thững đi bộ ra biển Quy Nhơn. Làng chài Trần Phú ngày xưa bây giờ là đường Xuân Diệu. Ngoài khơi xa ấy, nhiều đồng đội của ông vẫn còn nằm lại mãi mãi không về...

Mai Thắng 

Bình luận

ZALO