Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Thứ tư, 21/04/2021 02:16 GMT+7

Kưk Tu - "Cha đẻ" thiết bị, đồ dùng dạy học bằng tiếng Mông

Biên phòng - "Nếu không phải duyên nghiệp, chắc giờ này mình đã trở thành người buôn bò giữa hai bên biên giới chứ không phải đi dạy chữ cho con em, lại càng không có cơ hội tham gia nhóm biên soạn bộ đồ dùng, thiết bị dạy học bằng tiếng Mông cho Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) như bây giờ" - Thầy Lầu Bá Tu, Hiệu phó kiêm Chủ tịch Công đoàn trường Tiểu học Nậm Cắn I (huyện Kỳ Sơn, Nghệ An), mở đầu câu chuyện trở thành nhà giáo của mình như thế...

pny1_10a
Thầy giáo Lầu Bá Tu trên bục giảng. Ảnh: Tiến Đông

Ở nhà chăm mẹ nhường em đi học

Kưk Tu (tiếng Mông nghĩa là thầy giáo Tu) - đó là cái tên trìu mến mà đồng bào Mông ở xã biên giới Nậm Cắn thường gọi anh - người dạy cả chữ Kinh lẫn chữ Mông cho con em mình như thế. Kưk Tu sinh năm 1976, nhưng mãi đến năm 24 tuổi, lúc bạn bè cùng trang lứa đã tốt nghiệp ra trường, thì anh mới bén chân đến cánh cửa giảng đường. Ban đầu tôi cứ nghĩ, ở miền núi ngày đó, chuyện mù chữ, hay trò nhiều tuổi hơn thầy là thường. Thế nhưng, chuyện trò với thầy giáo Tu lâu hơn mới hiểu con đường đến trường của anh thật là gian nan.

Anh Tu kể, bố mẹ anh có đến 11 người con, anh là con cả. Nhà nghèo, theo tập quán cũ của người Mông, hết vài mùa rẫy đất đai cằn cỗi, bố mẹ anh lại dắt díu đàn con từ vùng này qua vùng khác sinh sống. Con cái vì thế đã đói rách lại càng nheo nhóc. 6 tuổi, từ bản Pù Xúng (xã Mường Thu cũ của huyện Kỳ Sơn), anh theo gia đình xuống tận Luân Mai (Tương Dương). Sau khi học xong lớp 3 ở đây thì bố mẹ lại kéo cả gia đình về Mường Lống (Kỳ Sơn). Tưởng chừng chuyện học của anh chỉ dừng lại lớp 3, vì năm 1988, anh bị một trận sốt rét gần chết phải nghỉ học 1 năm.

Qua đận ấy, anh lại xin bố mẹ cho đi học. Theo học đến lớp 8 tại Mường Lống, thì gia đình lại chuyển ra Nậm Cắn và ở đây cho đến nay. Năm 1998, tốt nghiệp cấp 3, anh khao khát đi học đại học để mở mang kiến thức chứ không cam chịu cảnh ở nhà cuốc nương, làm rẫy. Nhưng rồi, bất ngờ mẹ đổ bệnh nằm liệt giường, anh đi không đành. Mặc bao lời khuyên can, nghĩ đến mẹ, lại thương đàn em sau còi cọc như mấy tàu chuối héo, anh quyết định gác ước mơ đi học, lân la sang Lào buôn trâu bò, kiếm tiền mua thuốc cho mẹ và nuôi em.

Hai năm nghỉ học đi buôn, giấc mơ được đứng trên giảng đường của anh vẫn chưa thôi cháy bỏng. Hè năm 2000, anh quyết định về đi thi và đậu vào trường Cao đẳng Sư phạm Nghệ An. Nhưng thật trớ trêu, nhập học chưa đầy 1 tháng, anh nhận được tin bố bị mắc bệnh ung thư. Mẹ nằm liệt giường, bố bị ung thư, chẳng lẽ số phận quyết bẻ gãy ước mơ của anh. Biết tin anh đòi bỏ học, trên giường bệnh, dẫu chỉ còn chút sức lực nhỏ nhoi, bố vẫn bấm chặt tay anh thì thào: "Con là niềm hy vọng của cả nhà, phải đi học để sau này còn thay bố mẹ nuôi các em".

Nghe lời bố, anh quyết tâm đến trường. Quá túng quẫn, đứa em thứ 3 lại phải bỏ dở năm học lớp 11 để đi viện chăm bố. Hoàn cảnh gia đình anh gần như không có lối thoát, cơm không có ăn, áo không đủ mặc. Khi anh bước vào năm thứ 3 thì bố mất, để lại gánh nặng nợ nần những ngày ngược xuôi điều trị cho gia đình.

Năm 2003, sau khi tốt nghiệp ra trường, anh Tu được nhận về dạy hợp đồng tại trường Tiểu học Nậm Cắn I. Ròng rã suốt 5 năm dạy hợp đồng, anh vừa cố gắng làm việc, vừa nuôi mẹ, nuôi em với đồng lương ít ỏi. Đến năm 2005, khi mẹ anh mất, tiền lương hợp đồng còn chưa đủ lo cho các em ăn học, nói chi đến việc trả nợ. Là người "đứng mũi chịu sào", anh lại cùng các em phát nương làm rẫy, nuôi trâu bò, lợn gà. Giờ đây cuộc sống đã dần ổn định, anh bảo "nhiều lúc nghĩ lại mới thấy việc quyết tâm đi học lấy cái chữ là điều đúng đắn".

Chuyên gia tiếng Mông

Là người Mông, nói tiếng Mông từ nhỏ, những mãi đến năm 2008, sau khi trải qua một lớp tập huấn, anh Tu mới được cấp chứng chỉ dạy tiếng Mông. Anh bảo, đó cũng là tấm bằng "ngoại ngữ" đầu tiên của mình. Thật buồn cười!

Ngày trước bố anh làm việc tại Ủy ban nhân dân xã, tìm đâu được cuốn sách dạy tiếng Mông rồi đem về cho con lân la tập học. Hiểu rõ ngôn ngữ của dân tộc mình, lại có nghiệp vụ sư phạm nên qua các cuộc hội thảo về dạy học tiếng Mông do Bộ GD&ĐT tổ chức, anh "đánh liều" phản biện lại bộ sách đã được Bộ GD&ĐT thiết kế từ xa xưa. Sau đó, anh cũng mạnh dạn đề xuất để dạy tiếng Mông hiệu quả hơn thì cần thiết phải có bộ đồ dùng, thiết bị dạy học giúp học sinh dễ hình dung. Thế là năm 2012, anh cùng với 2 thầy cô khác ở Yên Bái, được Bộ GD&ĐT trưng dụng lập thành nhóm biên soạn, thiết kế thiết bị, đồ dùng dạy học bằng tiếng Mông. Vai trò của nhóm này là từ bộ sách giáo khoa đã có, đến bài nào cần hình ảnh, phim hay công cụ minh họa thì thiết kế, phục vụ hỗ trợ.

iwxt_10b
Thầy Tu trong tiết học tiếng Mông tại trường Tiểu học Nậm Cắn I.  Ảnh: Tiến Đông

Nói về tiếng Mông, Kưk Tu thật say sưa. Anh bảo: "Xét theo góc độ từ vựng và cấu trúc ngữ pháp tiếng Mông chia thành 5 phương ngữ tương ứng với 5 hệ Mông. Đó là Mông Trắng, Mông Hoa, Mông Đỏ, Mông Đen, Mông Xanh. Một thời gian, do không được quan tâm đúng mức nên chữ Mông đã bị mai một. Mãi đến năm 1955, Bộ GD&ĐT đã tiến hành điều tra khảo sát và nghiên cứu so sánh ngôn ngữ dân tộc Mông của 5 phương ngữ trên các địa bàn người Mông trong cả nước. Sau hơn 2 năm, Bộ quyết định chọn phương án chữ Mông trên cơ sở La tinh hóa và chọn ngữ âm Mông Hoa (Mông Lềnh) vùng Sa Pa, tỉnh Lào Cai làm âm tiêu chuẩn của bộ chữ Mông Việt Nam. Đến tháng 10-1960, phương án chữ Mông đã được Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thông qua. Từ đó, người Mông chính thức có chữ.

Riêng ở Nghệ An, trên địa bàn có đồng bào Mông sinh sống, từ năm 2008, tiếng Mông đã được đưa vào nhà trường dạy cho học sinh từ lớp 3 đến lớp 5. Đúng chất của một chuyên gia ngôn ngữ, anh bảo: "Ngôn ngữ dân tộc Mông thuộc hệ ngữ âm Nam Á trong nhóm Miêu - Dao. Cấu trúc âm tiết của ngôn ngữ Mông hoàn toàn mở và nhạc hóa. Khác với ngôn ngữ tiếng Việt, cấu trúc âm tiết của tiếng Mông không có âm tiết tận cùng bằng phụ âm khép môi.

Không chỉ là giảng dạy tiếng Mông cho học sinh trong trường, từ năm 2006 (dù khi đó chưa được cấp chứng chỉ), Kưk Tu đã trở thành chuyên gia, giảng viên cốt cán dạy chữ viết và tiếng nói dân tộc Mông cho công chức, viên chức của nhiều cơ quan, ban, ngành tại Nghệ An và Thanh Hóa. Anh bảo, đây là điều mà trước đây mình chưa bao giờ nghĩ đến...

Do đó, cấu trúc âm tiết tiếng Mông là tương đối đơn giản, thuận lợi cho người học dễ dàng tiếp cận". Dù anh nói vậy, nhưng đối với tôi, tiếng Mông quả thật là... mông lung vô cùng. Với 58 phụ âm được phân thành 4 nhóm âm, để học hết và phát âm đúng là rất khó. Tiếng Mông sử dụng 11 nguyên âm, nhưng lại có 8 thanh điệu. Thanh điệu trong tiếng Mông vừa có chức năng làm phụ âm đầu, vừa làm dấu thanh. Dấu thanh tiếng Mông đặt ở cuối âm tiết chứ không đặt trên và dưới như tiếng Việt.

Khi được chọn vào nhóm biên soạn, thiết kế thiết bị, đồ dùng dạy học bằng tiếng Mông, mặc dù mỗi người một nơi, nhưng cả nhóm vẫn tìm được tiếng nói chung. Căn cứ vào từng bài học, anh Tu tự thiết kế phần việc của mình trong máy tính, sau đó nhóm họp lại để thảo luận, góp ý, chọn ra phương án thống nhất. Năm 2013, sau khi thiết kế xong, nhóm đã trình lên và được Bộ GD&ĐT thẩm định phê duyệt. Hiện bộ thiết bị, đồ dùng dạy học này đang được hoàn thiện để phát hành phục vụ việc học tiếng Mông của học sinh.

Tiến Đông

Bình luận

ZALO