Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Thứ tư, 14/04/2021 01:50 GMT+7

Khó bao phủ nước sạch toàn diện vùng nông thôn

Biên phòng - Đến thời điểm hiện tại, Việt Nam đã có 87,5% số người dân nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh, trong đó có 49% số cư dân được sử dụng nước sạch theo quy chuẩn 02 của Bộ Y tế. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu đến năm 2020 bao phủ nước sạch cho 51% dân số còn lại của vùng nông thôn, Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức, đòi hỏi phải có cách tiếp cận mới.

vdqs_12a
Một công trình cấp nước cho thôn, bản vùng cao bị bỏ hoang do không có nước. Ảnh: Bích Nguyên

Phần lớn công trình cấp nước hoạt động kém hiệu quả

Ông Đỗ Văn  Thành, Vụ trưởng Vụ Quản lý nguồn nước, Tổng cục Thủy lợi, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, đến hết năm 2016, có 87,5% số người dân nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh, trong đó, gần 49% đạt quy chuẩn 02 của Bộ Y tế. Trên địa bàn toàn quốc, mới có 4 địa phương bao phủ nước sạch 100% là Thành phố Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu.

Hiện, có 3 mô hình về quản lý khai thác nước sạch gồm: Mô hình trung tâm nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; mô hình doanh nghiệp và mô hình cộng đồng UBND xã. Trong đó, có 43,5% dân số nông thôn được các công trình cấp nước tập trung cung cấp, còn lại 56,5% sử dụng nước từ công trình nhỏ lẻ.

Điều đáng nói là cả nước hiện có 16.342 công trình cấp nước tập trung, trong đó chỉ có 33,5% công trình bền vững, còn lại 37,5% hoạt động trung bình, 16.7% hoạt động kém hiệu quả và 12% không hoạt động. Cá biệt, vùng Tây Nguyên có tới 45,2% công trình cấp nước tập trung hoạt động kém hiệu quả hoặc không hoạt động, tiếp đó là miền núi phía Bắc với tỉ lệ 34,8% và đồng bằng sông Hồng là 18,1%.

Theo khảo sát của Tổ chức Đông Tây hội ngộ, khu vực tư nhân quản lý 2,9% tổng số công trình cấp nước với tổng giá trị hơn 3 nghìn tỉ đồng, chiếm 15% tổng số vốn đầu tư. Khảo sát tại 24 tỉnh được tổ chức Đông Tây hội ngộ hỗ trợ, thì những công trình bền vững do tư nhân quản lý chiếm tỉ lệ 69%, cao hơn tỉ lệ chung là 50%.

Tuy nhiên, việc cấp nước sạch hiện nay đang gặp không ít khó khăn, thách thức. Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) đã sử dụng Bộ công cụ phân tích rào cản trong cấp nước bền vững và an toàn cho vùng nông thôn Việt Nam và xác định được 48 rào cản với những tồn tại, thách thức trong thời gian tới. Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hoàng Văn Thắng, Việt Nam đang phải đối mặt với hàng loạt thách thức trong việc cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn do nhiều lý do cả khách quan và chủ quan. "Các tác động của biến đổi khí hậu và tác động do phát triển của lưu vực sông đang đe dọa về chất lượng nguồn nước, đặc biệt là trong trường hợp xảy ra rủi ro thiên tai thì nhiều nơi khó tiếp cận với nguồn nước, ví dụ như Bến Tre trong năm 2016, nguồn nước của toàn tỉnh bị nhiễm mặn. Ô nhiễm môi trường nước có xu hướng ngày càng tăng. Bên cạnh đó, quản lý nước ở khu vực miền núi và Tây Nguyên còn thiếu bền vững và chậm có giải pháp khắc phục. Việc chuyển đổi chương trình mục tiêu về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn vào Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và phân bổ vốn theo kênh trung hạn cũng đang lúng túng, gặp nhiều khó khăn, chậm và cũng gây cản trở lớn cho việc tăng trưởng cấp nước sạch. Ngoài ra, cơ chế, chính sách về lĩnh vực nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn còn nhiều bất cập" - Thứ trưởng Hoàng Văn Thắng nói.

Chính sách thiếu nhất quán, không cập nhật

Bà Dương Hồng Loan, Giám đốc Quốc gia Tổ chức Đông Tây hội ngộ cho rằng, một trong những nguyên nhân khiến cho lĩnh vực cấp nước sạch nông thôn còn nhiều hạn chế là do chính sách thiếu nhất quán, không cập nhật. Bà Loan nêu ví dụ. Đầu tư công quy định các dự án đầu tư phải nằm trong kế hoạch 5 năm nhưng các dự án cấp nước nông thôn vì nhiều lý do chưa nằm trong các kế hoạch đầu tư công của địa phương. Hay Quyết định số 104/2000/QĐ-TTg của Thủ tướng ngày 25-8-2000 phê duyệt Chiến lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn đến năm 2020, chính quyền địa phương không có đủ cơ sở pháp lý để xây dựng kế hoạch cụ thể và định hướng phát triển lĩnh vực cấp nước nông thôn phù hợp và thống nhất. Còn nữa, Quyết định số 131/QĐ-TTg (2-11-2009) và Thông tư liên tịch số 37/TTLT BNN-BTC (31-10-2013) về xã hội hóa không còn hiệu quả vì Chương trình Mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn đã kết thúc. Trong khi đó, không có chính sách, hướng dẫn hỗ trợ tiếp theo, ít nhất là để duy trì và phát triển các công trình cấp nước nông thôn, dẫn đến tình trạng các công trình dở dang, không có vốn hoàn thành, công trình xuống cấp không có vốn để sửa chữa.

Theo bà Loan, để đạt các mục tiêu về cấp nước sạch nông thôn, không còn con đường nào khác là phải đẩy mạnh xã hội hóa cấp nước. Các dịch vụ cung cấp nước sạch nông thôn cần được phát triển theo cách tiếp cận dựa vào thị trường. Tuy nhiên, lĩnh vực đầu tư tư nhân trên thực tế không có nhiều lợi thế vì Quyết định số 62 và số 18 của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi và bổ sung Điều 3 của Quyết định số 62 chưa bố trí nguồn vốn và quy định ngân hàng nào có trách nhiệm cho vay ưu đãi cho các doanh nghiệp tham gia cấp nước nông thôn. Đối với các ngân hàng thương mại, các dự án cấp nước nông thôn và những tài sản đầu tư bởi những nhà đầu tư tư nhân không được xem là tài sản thế chấp hợp lệ để vay tiền.

Ông Đỗ Văn  Thành cho biết, để đảm bảo mục tiêu cấp nước sạch nông thôn như đã đề ra, trong thời gian tới, bên cạnh việc hoàn thiện hệ thống tổ chức quản lý và cơ chế chính sách cần tăng cường xã hội hóa nguồn lực đầu tư cho việc cấp nước sạch nông thôn. Theo đó, Chính phủ cần có cơ chế để các ngân hàng thương mại cho phép các doanh nghiệp, tư nhân đầu tư với mức vay vốn ưu đãi.

Còn theo bà Loan, để đẩy mạnh xã hội hóa lĩnh vực cấp nước sạch nông thôn, Nhà nước cần đảm bảo cho khu vực tư nhân được hưởng các ưu đãi về đất đai, thuế, hợp tác công tư, hỗ trợ, tài chính. "Chính phủ cần đảm bảo tính công bằng để mọi người, kể cả những người nghèo nhất được tiếp cận nước sạch và kiểm soát chất lượng dịch vụ (chất lượng nước). Đồng thời, đảm bảo tính có thể chi trả được của dịch vụ và cạnh tranh công bằng trong việc cung cấp các dịch vụ tới người dân"- Bà Loan đưa ra khuyến nghị.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng nên đưa ra những chỉ tiêu cụ thể để đạt được. "Làm sao giảm từ 28% công trình cấp nước không hoạt động xuống còn 20% trong 3 năm chẳng hạn. Đồng thời, tăng tỉ lệ bền vững của các công trình cấp nước lên cao hơn" - Bà Loan nói.

Thu Hằng

Bình luận

ZALO